Tác giả Brooke Jarvis
Hình minh hoạ: Amandine Urruty
Thuỳ biên dịch
Cơ thể của Deirdre Barrett thì đang ở trên giường, nhưng tâm trí cô đang ở trong một thư viện. Thư viện này nằm trong một căn nhà cũ, với những ngọn đèn dầu rực sáng và trên kệ chất đầy những cuốn sách bọc da đẹp mắt. Lúc đầu, nó mang lại cảm giác ấm cúng và an toàn và vượt thời gian, đó chính xác là nơi mà một học giả như Barrett thấy hấp dẫn – Barrett hiện đang giảng dạy tại khoa Tâm thần học của Trường Y Harvard, kiêm biên tập của tạp chí khoa học Dreaming. Nhưng khi giấc mơ tiếp diễn, theo lời cô kể lại sau đó: “Tôi trở nên ít tập trung hơn vào thư viện và bị choáng ngợp bởi những sự kinh hoàng không thể nhìn thấy rõ ở phía bên ngoài.” Ngoài cửa sổ của thư viện êm đềm kia là “một bệnh dịch đang tàn phá thế giới.”
Khi Barrett thức dậy, đó là thời điểm giữa tháng 3 năm 2020. Cô đã đọc rất nhiều về virus corona ở Vũ Hán kể từ khi báo chí bắt đầu đưa tin về nó, và cô tự hỏi, như cô thường làm sau khi đọc về các sự kiện được đưa tin, là nó xuất hiện như thế nào trong giấc mơ của những người trải qua nó: những cư dân đang bị lockdown ở Trung Quốc, những bác sĩ và y tá quá tải ở Ý. Giấc mơ của con người trong thời kỳ thảm hoạ chung là điều mà cô đã nghiên cứu nhiều lần trong suốt sự nghiệp của mình – ví dụ như phân tích giấc mơ của người Kuwait sau cuộc xâm lược của Iraq và giấc mơ của các sĩ quan Anh bị Đức Quốc Xã giam giữ trong thế chiến thứ II, so sánh giữa các giấc mơ trong những thời kỳ đó với nhau để xem chúng khác nhau như thế nào, và có gì khác biệt so với những giấc mơ ở thời điểm bình yên hơn.
Từ khi còn nhỏ, Barrett đã bị cuốn hút bởi những giấc mơ của chính cô, vốn là những giấc mơ rất sống động. Chúng có xu hướng ở lại với cô khá lâu sau khi cô thức dậy, khiến cho màn đêm trở thành thời điểm để đi vào và đi ra những thế giới mới, những cuộc phiêu lưu mới, thường là những thế giới/cuộc phiêu lưu mà cô đã đọc nhưng trong mơ cô có thể tương tác với chúng và sống trọn vẹn trong đó. Khi lớn lên, cô quyết định trở thành một tác giả tiểu thuyết; những câu chuyện đầu tiên mà cô viết phần lớn không chỉ lấy bối cảnh trong những thế giới do cô tưởng tượng ra mà còn đi vào và ra khỏi nhiều thế giới trong mơ của các nhân vật. Cô hết sức tò mò về cuộc sống trong mơ của những người khác: khi cô bắt đầu viết bài cho tờ báo ở trường trung học, cô thường hỏi các nguồn tin của mình rằng họ có từng mơ về những điều mà cô đang phỏng vấn họ hay không. Giấc mơ là một ô cửa sổ, mặc dù rất kỳ lạ, để nhìn thấy cách thức người ta và tâm trí của họ hoạt động. Ở trường đại học, Barrett quyết định không tiếp tục theo đuổi sự nghiệp viết tiểu thuyết nữa (mặc dù cô vẫn vẽ lại những gì mình nhìn thấy và cảm thấy trong khi ngủ). Cô muốn trở thành một nhà khoa học nghiên cứu những gì xảy ra bên trong những giấc mơ.
Có lẽ điều này nghe hơi mâu thuẫn. Sau cùng, khoa học là về những thứ có thể quan sát được, định lượng được, kiểm tra được, dự đoán được và giải thích được – nhưng giấc mơ thì không thoả bất cứ điều kiện nào trong số này cả. Chúng xảy ra bên trong đầu người, về cơ bản là người khác không thể quan sát được, và dù có thể truy cập được, trong điều kiện lý tưởng nhất, thì cũng chỉ là các bit thông tin mù mờ, bị phân mảnh và nhanh chóng biến mất khỏi bộ nhớ. Nội dung kỳ lạ và có vẻ khá ngẫu nhiên của giấc mơ dường như thách thức mọi logic tường thuật (“Tôi đứng trong phòng ăn của bà, nhưng nó lại trông giống như cantin của trường cấp hai tôi từng học, và sau đó đột nhiên nha sĩ cũ của tôi xuất hiện trong đó cùng với nhân vật trong một cuốn sách mà tôi đang đọc”). Trong quá trình lấy bằng tiến sĩ về tâm lý học, Barrett phát hiện ra rằng có rất nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này tin rằng giấc mơ về cơ bản là vô nghĩ – rằng chúng không mang bất cứ một đích tiến hoá nào và chỉ là hiệu ứng phụ của những cơn rung thần kinh ngẫu nhiên trong não của người đang ngủ khi nó đang thực hiện những nhiệm vụ quan trọng. Những người này cho rằng thật là ngớ ngẩn khi dành quá nhiều sự chú ý cho những câu chuyện kỳ quặc mà các tế bào thần kinh ngái ngủ tạo ra từ những mẫu tin rời rạc trong não của chúng ta.
Mặc dù vậy, Barrett vẫn luôn tin rằng giấc mơ là quan trọng. Cuốn sách đầu tiên của cô là một bộ sưu tập đã qua chỉnh lý, xem xét một cách nghiêm túc về giấc mơ của những người sống sót sau chấn thương tâm lý nghiêm trọng. Cô viết: Giấc mơ có thể giúp cho những điều không thể nói ra lên tiếng và bắt đầu khôi phục lại những gì đã bị tàn phá. Trong cuốn sách tiếp theo có tên “The Committee of Sleep” (tạm dịch: Uỷ ban giấc ngủ), xem xét vai trò của giấc mơ đối với sự sáng tạo, lưu ý rằng giấc mơ được cho là nguồn gốc trực tiếp của một số tác phẩm, ví dụ như: Flag của Jasper Johns, nhân vật Stuart Little và cốt truyện Frankenstein, bài Yesterday của The Beatles, chiến hạm sắt đầu tiên, bước đột phá khoa học đã mang lại cho các nhà nghiên cứu giải Nobel Y học năm 1936 và – mặc dù đây chỉ là giả thuyết – cấu trúc của bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học. Stephen King – đã vật lộn rất vất vả với cái kết của “It”, sau đó ông mơ thấy một cái kết rất ưng ý và đó chính là cái kết mà hiện nay chúng ta được đọc trong sách. Đã có lần ông giải thích rằng ông dùng giấc mơ như một phần có mục đích trong quá trình sáng tạo của mình “như cách bạn dùng gương để nhìn thứ gì đó mà bạn không thể nhìn thấy trực tiếp.” Barrett cũng bị thu hút bởi các sự kiện chung lớn của nhân loại, những thứ mà rất nhiều người cùng trải qua và sau đó mơ về – như những nhà nghiên cứu giấc mơ diễn ra sau những cơn bão lớn, những lần hoả hoạn lớn và những cuộc chiến tranh. Giấc mơ của một người có vẻ riêng tư và không mạnh lạc, nhưng khi xem xét giấc mơ của nhiều người cùng bị ảnh hưởng bởi cùng một trải nghiệm, bạn sẽ nhìn thấy những mô thức. Bên trong những mô thức này, bạn có thể sẽ tìm thấy một ý nghĩa nào đó.
Phân tích những giấc mơ sau vụ tấn công 11/9 – bao gồm một nghiên cứu theo dõi các đối tượng đã ghi lại giấc mơ của họ khi các cuộc tấn công xảy ra – cho thấy hậu quả ảnh hưởng đến những người mơ theo những cách khác nhau. Những người trực tiếp nhìn thấy vụ tấn công và những người có mặt ở đó và may mắn sống sót thường mơ thấy những phiên bản thực tế về những chấn thương mà họ đã qua; một số người mơ thấy những giấc mơ giống nhau tái diễn hết đêm này sang đêm khác; một số người khác thì mơ thấy những điều mới và giấc mơ của họ thay đổi theo thời gian. Barrett phỏng vấn hai nhân chứng luôn mơ thấy người ta nhảy ra khỏi những tòa nhà, cho đến khi cuối cùng giấc mơ của họ trang bị dù cho những người này tiếp đất an toàn. Nhưng kể cả những người chỉ biết về cuộc tấn công này qua truyền hình cũng trải qua những giấc mơ đầy lo lắng và thậm chí là ác mộng. Các giấc mơ của họ thường thay thế hoặc kết hợp giữa những gì thực tế đã xảy ra và nhiều thảm hoạ khác, nhưng bị sóng thần cuốn đi hoặc bị rung chuyển bởi một cuộc động đất. Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là những phần ẩn dụ cho những cảm xúc mà họ đã cảm thấy.
Sau vụ 11/9, Barrett tin rằng cô sẽ không bao giờ gặp phải một sự kiện có ảnh hưởng sâu sắc và rộng rãi đến những giấc mơ như vậy nữa. Nhưng bây giờ, khi virus mới lây lan và toàn thế giới đóng cửa, cô nhận ra rằng cô đã sai. Như giấc mơ của cô trong thư viện, cô đang sống trong một cơn bão đang càn quét qua – điều mà sau này cô gọi là “cuộc khủng hoảng lớn nhất được phản ánh trong những giấc mơ trong kiếp sống này của chúng ta” và “một thời điểm phi thường trong lịch sử của những giấc mơ.” Kể cả khi cô cũng phải ở nhà do lock down, cô cảm thấy rằng mình không nên bỏ lỡ cơ hội nghiên cứu ý nghĩa của sự kiện này.
Nghiên cứu về những giấc mơ đôi khi bị bác bỏ. Và cho dù không có ác cảm với nó thì người ta cũng cho rằng nó không hấp dẫn. Khi tham dự một hội nghị trực tuyến của Hiệp hội Nghiên cứu Giấc mơ Quốc tế vào tháng 6, các phiên thuyết trình dựa trên các tài liệu nghiên cứu thường thấy trong các hội nghị khoa học bị bỏ qua và thay thế bằng các phiên thảo luận về điềm báo, các bài haiku về giấc mơ và cái gì đó gọi là “cuộc thi thần giao cách cảm trong mơ.” Nhưng các nhà nghiên cứu đã ngày càng đưa ra nhiều công cụ xã hội học và y sinh vào để phục vụ nghiên cứu giấc mơ. Các phòng thí nghiệm giấc ngủ xuất hiện ở nhiều trường đại học trên thế giới, nghiên cứu những người mơ bằng máy fM.R.I và EEG và xuất bản các nghiên cứu thực nghiệm trên các tạp chí có uy tín. Các nhà nghiên cũng cũng đang tìm hiểu cách ứng dụng công nghệ thực tế ảo để “xây dựng” giấc mơ và trải nghiệm ngủ, và thậm chí đã bắt đầu quét não để tạo ra các thuật toán cho phép dự đoán những hình ảnh mà người nằm mơ đang thấy, mặc dù độ chính xác của nó vẫn còn hạn chế. Mục đích của họ là phá vỡ những bức tường bao quanh sự hiểu biết của chúng ta về giấc mơ. Nhưng kể cả khi đã có những phòng thí nghiệm giấc ngủ và máy quét não, Tore Nielsen – giám đốc Phòng thí nghiệm Giấc mơ và Ác mộng tại đại học Montreal – vẫn than vãn rằng “không có nhiều lối vào” giấc mơ. Nhưng đại dịch đang mang đến cho chúng ta không chỉ một câu trả lời, mà còn là một điểm truy cập khác, một thử nghiệm tự nhiên được tạo ra dựa trên kinh nghiệm tập thể mà toàn thế giới đang phải trải qua.
Khi virus corona lan rộng và rất nhiều nơi trên thế giới chuyển sang hướng cô lập, các nhà nghiên cứu giấc mơ bắt đầu gấp rút thiết kế các nghiên cứu, xây dựng các khảo sát có thể cho phép họ tiếp cận được với một trong những nơi bị cô lập nhất, giấc mơ bên trong não bộ của các cá nhân. Điều đầu tiên mà hầu như ai cũng nhận thấy là đối với nhiều người, thế giới trong mơ của họ dường như đột nhiên rộng lớn hơn và dữ dội hơn. Một nghiên cứu trên 1000 người ý sống trong những khu vực lock down chặt chẽ nhất cho thấy 60% gặp vấn đề về giấc ngủ – thời kỳ trước dịch, chỉ có 1/3 số người ở ý cho biết họ bị khó ngủ – và họ cũng có thể nhớ được nhiều hơn về những giấc mơ của mình so với thời điểm bình thường, và báo cáo rằng những giấc mơ đó có cảm giác rất thực tế và xúc động và kỳ dị. Ở Vũ hán, nghiên cứu trên 100 y tá làm việc tại tuyến đầu cho thấy 45% trong số họ gặp ác mộng – một tỉ lệ mà theo Nielsen là “cao gấp đôi so với tỉ lệ gặp ác mộng ở các bệnh nhân tâm thần ngoại trú ở Trung Quốc và cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ 5% dân số nói chung mắc chứng rối loạn ác mộng.” Ở Pháp, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Thần kinh Lyon phát hiện ra rằng khả năng nhớ được nội dung của giấc mơ tăng 35% sau một tháng lock down, trong khi một cuộc khảo sát trên 3000 người Mỹ cho thấy gần 1/3 số người được hỏi nhận thấy bản thân đột nhiên nhớ nhiều giấc mơ hơn. Thậm chí trên các trang mạng xã hội, những người nghiên cứu cũng nhận thấy sự xuất hiện của rất nhiều người ngạc nhiên về việc giấc mơ của họ đột nhiên trở nên sống động và mở rộng hơn rất nhiều.
Số giấc mơ tăng vọt này phần nào phản ánh sự lo lắng của xã hội trong thời điểm này; nghiên cứu đã chỉ ra rằng những cảm xúc trong cuộc sống ban ngày được phản ánh trong giấc mơ nhiều hơn so với thực tế của các sự kiện, trong khi những giấc mơ giàu cảm xúc nhất lại là những giấc mơ dễ nhớ được nhất. Một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự gia tăng của những giấc mơ là thời gian. Khi người ta ngủ, chúng ta bước vào trạng thái ngủ REM – một giai đoạn trong quá trình ngủ mà trong đó các giấc mơ giàu cảm xúc, giàu tình tường thuật xuất hiện – khoảng một lần mỗi 90 phút. (Vẫn chưa rõ tại sao chúng ta chỉ mơ trong trạng thái ngủ REM). Và khi đêm trôi qua, các giai đoạn REM trở nên dài hơn: phiên đầu có thể kéo dài khoảng 5 phút, những phiên sau có thể kéo dài tới 40 phút. Bởi vì trạng thái ngủ REM bị dồn về phía buổi sáng, một giấc ngủ ngắn hơn có thể là thảm hoạ đối với giấc mơ. “Barrett viết trong “Pandemic Dreams” – một cuốn sách nhỏ tập hợp kết quả của khảo sát do cô tự thực hiện – rằng: “Khi bạn ngủ 6 tiếng thay vì 8 tiếng như bình thường, bạn không mất 1/4 giấc mơ của mình. Bạn mất gần một nửa – và phần giấc mơ mất đi này chính xác là những gì sống động nhất, kỳ lạ nhất và đáng nhớ nhất.”
Ngủ đủ giấc là một đặc ân: các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu cái gọi là “sự phân chia giấc ngủ,” phần nào chỉ ra việc sự phân biệt chủng tộc và phân hoá kinh tế xã hội góp phần dẫn đến việc người nghèo hơn có chất lượng giấc ngủ thấp hơn và do đó có sức khoẻ kém hơn. Năm 2017, nhà tâm lý học Rubin Naiman đã lập luận trong Biên niên sử của Học viện Khoa học New York rằng việc mất đi cuộc sống trong mơ là một “đại dịch thầm lặng khác” xuất hiện ở thời điểm hiện tại và không được đánh giá đúng mức, góp phần gây ra các vấn đề về sức khỏe thể chất và tinh thần. Ông viết: “Chúng ta đang mơ ít hơn bởi vì chúng ta ngủ ít hơn.”
Antonio Zadra, một giáo sư tâm lý học tại đại học Montreal và là một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Nâng cao về Y học Giấc ngủ, nói với thôi rằng trạng thái bình thường của thế giới, trong đó những người bận rộn và thiếu ngủ không mơ, hoặc không thể nhận thấy là mình mơ. Việc này giống như việc chúng ta đang sống trong những thành phố lớn với ánh đèn sáng rực, nhưng không thể nhìn thấy những gì tồn tại ngoài ánh sáng nhân tạo xung quanh chúng ta. Sau đó, sự xuất hiện của các đợt lockdown khiến nhiều người đột nhiên thay đổi các thói quen thường ngày của họ, không đặt báo thức nữa. Họ ngủ lâu hơn và muộn hơn thay vì phải thức dậy sớm và nốc cafe hoặc tắm táp buổi sáng để tỉnh táo mà đến công ty. (Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng những người này thường thức dậy vào lúc nữa đêm hơn vì căng thẳng, điều này có thể là nguyên nhân khiến họ nhớ được nhiều điều mà họ mơ thấy vào buổi sáng.) Khi những người ở trong những khu vực bị lockdown nhận ra họ mơ nhiều hơn bình thường, Zadra nói rằng “như thể có một sự kiện thảm khốc đã làm tắt hết những đèn đóm nhân tạo và mọi người ngạc nhiên khi thấy rất nhiều ngôi sao trên bầu trời.”
Đó là một sự so sánh thú vị. Nhưng như vậy thì sao? Nó có quan trọng gì đối với cuộc sống của chúng ta khi những giấc mơ, hay ít nhất là nhận thức về nó, đã được mở rộng? Trong cuốn sách “Tại sao chúng ta ngủ” của mình, nhà thần kinh học Matthew Walker đã nửa đùa nửa thật nói rằng giấc mơ là khi mọi người trên thế giới trở thành “kẻ rối loạn tâm thần rõ rành rành”, nhìn thấy những ảo giác, ảo tưởng, mất phương hướng, tâm trạng thất thường và mất trí nhớ. Chúng ta thấy những thứ không có thật, tin vào những điều không tồn tại, không biết chúng ta là ai hay từ đâu tới, tâm trạng thay đổi thất thường và nhanh chóng quên đi hầu như tất cả những thứ mà chúng ta đã trải qua. Trong những ngày đầu đáng sợ của đại dịch, một trong những giấc mơ sống động nhất của chồng tôi là chúng tôi tổ chức một bữa tiệc và bạn cùng phòng trước đây của ảnh mang đến một món ăn gọi là “viên cà rốt”: cà rốt được múc thành viên như viên dưa hấu, những viên cà rốt nổi trên mặt nước, bên trong một chiếc giày cũ. Việc đó có thể mang lại điều gì cho anh ta?
Trong phần lớn lịch sử loài người, giấc mơ được hiểu là chứa đầy những thông điệp và dấu hiệu cảnh báo. Trong nhiều nền văn hoá và văn bản, từ sử thi Gilgamesh đến Cựu ước rồi Tử thư Tây Tạng, những giấc mơ được coi là điềm báo hoặc thông điệp từ các vị thần, tổ tiên hoặc linh hồn, cho chúng ta biết những điều mà bình thường chúng ta không biết được. Giấc mơ dự báo sự ra đời của Đức Phật, hướng dẫn Jacob, Daniel và Joseph; và cung cấp kiến thức thiêng liêng cho các thành viên của những cộng đồng người bản địa trên khắp thế giới.
Vào giữa thế kỷ 19, giấc mơ bắt đầu được hiểu là một sản phẩm sáng tạo của bộ não, là thứ có thể được nghiên cứu một cách khoa học. Alfred Maury đã thử nghiệm xem liệu các kích thích giác quan như mùi, âm thanh xuất hiện trong lúc ngủ có thể ảnh hưởng đến giấc mơ hay không (và kết luận là chúng có thể). Mary Whiton Calkins đi tiên phong trong các hoạt động thu thập và phân tích thống kê các báo cáo về giấc mơ, hoặc nghiên cứu các đối tượng một cách có hệ thống vào các thời điểm khác nhau trong đêm để tìm hiểu xem giấc mơ của họ thay đổi như thế nào theo thời gian. Sante de Sanctis đã so sánh giấc mơ của nhiều nhóm khác nhau, như trẻ em và người già hoặc người bệnh tâm thần với người khoẻ mạnh. Một số nhà tâm lý học giờ đây đã điều chỉnh cách tiếp cận phân tích giấc mơ của Freud – Freud cho rằng tất cả các giấc mơ đều là phiên bản được mã hoá của những mong ước muốn được thành tựu, và sau đó dẫn đến sự quan tâm về cái gọi là “giải mã giấc mơ,” với một số các yếu tố có ý nghĩa cố định, có thể xác định được – như một sự xen kẽ của các loại, một cuộc khởi hành và xao lãng khỏi một thế kỷ tiến bộ khoa học trong các nghiên cứu của giấc mơ.
Lĩnh vực này được mở rộng hơn nữa với một phát hiện vào giữa thế kỷ 20. Một sinh viên tốt nghiệp tên là Eugene Aserinsky, đang quan sát con trai mình ngủ với các điện cực theo dõi, đã bất ngờ phát hiện ra mắt của cậu bé bắt đầu dịch chuyển như thể cậu đang thức giấc. Aserinsky đã khám phá ra trạng thái ngủ REM, mà các nhà nghiên cứu đã sớm gắn nó với các thời điểm giấc mơ sống động nhất, nhiều tính tường thuật nhất. Zadra và Robert Stickgold, giáo sư tâm thần học tại Trường Y Harvard và giám đốc Trung tâm Giấc ngủ và Nhận Thức Boston, viết trong cuốn sách của họ có tên là “When Brains Dream” rằng: “Giấc mơ không còn chỉ là một hiện tượng tâm thần bí ẩn dường như đến từ hư không ngoại trừ việc nó có thể là nguồn lực tiềm ẩn trong tâm hồn của chúng ta. Đột nhiên, có một ý nghĩa sinh học cho giấc mơ.”
Cuối năm 1970, hai nhà tâm thần học ở Harvard, John Allan Hobson và Robert McCarley, đã tranh luận rằng thật ngu ngốc khi tạo ra một lý thuyết về giấc mơ theo cách con người từ trước nay vẫn làm: bắt đầu với giấc mơ và nội dung của giấc mơ. Theo họ, giấc mơ mang tính kỳ quặc và chủ quan, với những tính chất phù du, cốt truyện lạ lùng và không tuần tự, thách thức các nghiên cứu logic. Thay vào đó, người nghiên cứu nên xem xét những thay đổi sinh lý trong não bộ của người đang ngủ, từ đó truy ngược lại để hiểu về bản chất tâm lý của giấc mơ – thứ mà họ cho rằng chỉ là việc não trước “làm tốt một nhiệm vụ tồi tệ trong việc tạo ra hình ảnh giấc mơ mang tính rời rạc từ các tín hiệu tương đối ồn ào được gửi từ trung tâm não.”
Nói cách khác, giấc mơ chỉ là một hiện tượng thần kinh còn sót lại sau những phần hoạt động có ý nghĩa trong giấc ngủ – một dạng tác dụng phụ, một tai nạn sinh học, giống như cách một bóng đèn điện được tạo ra để phát sáng nhưng nó cũng tỏ ra nhiệt. Chúng mang theo dư âm về những gì đã xảy ra khi chúng ta thức, nhưng chúng không có bất kỳ tác động lâu dài nào, không có mục đích riêng. Nếu những người theo đuổi giấc mơ, như Romeo, mớm lời cho những điềm báo, thì lý thuyết mới là Mercutio, cảnh báo anh ta không nên nghe lời “lũ trẻ với bộ óc nhàn rỗi / không làm được gì ngoài việc nghĩ ra những ý tưởng viễn vông / chỉ là thứ mỏng manh tựa như không khi / và không kiên định bằng một cơn gió.”
Lý thuyết của Hobson và McCarley được gọi là giả thuyết kích hoạt tổng hợp, vẫn chưa bị bác bỏ, và những người ủng hộ nó vẫn mở rộng và tinh chỉnh nó một cách thường xuyên; nó có thể đúng khi khẳng định rằng giấc mơ là phụ phẩm nhiệt chứ không phải là ánh sáng. Nhưng nó cũng được cân bằng bởi một xu hướng ngược trong các nghiên cứu về giấc mơ, được đặc trưng bởi việc xô đổ các lý thuyết và mô hình dựa trên kiến thức mở rộng của chúng ta về não bộ ở trạng thái mơ để tạo ra các phiên bản khác nhau của lập luận ngược lại rằng: giấc mơ có một mục đích chân thực về mặt sinh học và cực kỳ quan trọng trong đời sống con người. Mỗi năm, càng có nhiều lý thuyết dạng này được bổ sung (nhiều đến mức những người nghiên cứu giấc mơ mà tôi trao đổi cùng phải thở dài hoặc xuýt xoa về số lượng hoặc chất lượng của chúng. Trong cuộc tranh luận sôi nổi này – về việc giấc mơ có quan trọng không và nếu có thì tại sao? – là “một vấn đề rất lớn trong nghiên cứu giấc mơ” – như nhà tâm lý học nghiên cứu người anh Mark Blagrove đã nhẹ nhàng nói với tôi.
Một điều mà ai cũng đồng ý là giấc ngủ, đặc biệt là trong trạng thái ngủ REM, rất quan trọng. Có điều, quá trình tiến hoá sẽ không đi theo hướng ủng hộ một hoạt động nguy hiểm như vậy – khi ngủ chúng ta ngắt kết nối khỏi thực tại, tự biến mình thành mục tiêu dễ dàng cho những kẻ săn mồi hay đối mặt với những nguy cơ tai nạn – nếu nó không thực sự hữu ích cho sự tồn tại. Không phải tự nhiên mà rất nhiều động vật, kể cả con người, dành một phần lớn cuộc đời để ngủ. Trên thực tế, khoa học vẫn chưa phát hiện ra loài động vật nào mà không ngủ cả. (Ngoại lệ là một nghiên cứu năm 1967 cho rằng ếch yêu tinh không ngủ; nhưng hiện nay nghiên cứu này được cho là có sai sót). Các loài chim di cư, cá heo bơi trong nước xoay sở để ngủ khi đang di chuyển bằng cách chỉ cho một bán cầu não nghỉ ngơi tại một thời điểm. Vịt cũng vậy – hai bán cầu não thay nhau làm nhiệm vụ thức canh. Ngoài ra còn có một phiên bản ít thành công hơn của hiện tượng này ở người, được gọi là hiện tượng “lạ nhà” – xảy ra khi bán cầu não trái của chúng ta từ chối nghỉ ngơi khi chúng ta lần đầu tiên ngủ ở một môi trường mới – khiến chúng ta khó ngủ hoặc thức giấc trong tình trạng rất mệt mỏi. Sứa cũng ngủ, mặc dù nó không có não, và giun đất nếu không ngủ trong nhiều giờ sau khi trải qua một sự kiện căng thẳng, như là tiếp xúc với nhiệt độ quá cao hay quá thấp hay tiếp xúc với chất độc, ít có khả năng sống sót. Một nghiên cứu sử dụng một thiết bị từ tính được gọi là insominator để kiểm tra tác động của việc thiếu ngủ đối với ong mật và phát hiện ra nó làm giảm năng lực giao tiếp của chúng với toàn bộ phần còn lại của đàn. Một nghiên cứu khác phát hiện rằng những con chuột bị mất ngủ sẽ chết trong vòng một tháng.
Ở người, giấc ngủ ngắn hơn làm tăng nguy cơ gây bệnh tim, béo phì, đột quỵ và Alzheimer. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã gợi ý một vài nguyên nhân: quá trình ngủ là khi não bộ thực hiện phần lớn các công việc “dọn dẹp”, cho phép cơ thể của chúng ta tiết ra hormone tăng trưởng, sản xuất kháng thể và điều hoà mức insulin và sửa chữa các tế bào thân kinh, và loại bỏ các protein dư thừa trong não. Nó cũng thực hiện các quá trình xử lý trí tuệ và cảm xúc quan trọng; nếu không ngủ đủ, chúng ta sẽ khó học điều mới, đánh giá các mối đe dọa, đối phó với sự thay đổi và nói chung là kiểm soát cảm xúc và hành vi của mình.
Nhưng tất cả những cái đó vẫn chưa thể chứng minh được các giấc mơ xuất hiện trong khi chúng ta ngủ – nội dung và thậm chí là sự tồn tại của chúng – thực sự có ý nghĩa riêng của chúng. Zadra giải thích với tôi rằng : “Giấc ngủ có thể làm được tất cả những nhiệm vụ của chúng mà không cần phải có những ảo ảnh mô phỏng này,” – những câu chuyện phức tạp hiện ra trong đầu của chúng ta mỗi đêm. Do đó, bất cứ ai muốn chứng minh rằng giấc mơ là quan trọng đều sẽ phải vật lộn với câu hỏi cơ bản đó về nội dung. Có lý do gì để dành cả đêm trong những câu chuyện kỳ lạ, đầy ảo ảnh mà chúng ta hiếm khi có thể nhớ được vào ngày hôm sau?
Một tuần sau khi mơ thấy cái thư viện, Barrett đã đăng tải một cuộc khảo sát trực tuyến. Cùng với các thông tin cơ bản về người tham gia khảo sát như nơi họ sống, họ có làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe hay không, họ có đang bị bệnh gì không – cô để một khoảng trống để mọi người tự mô tả những giấc mơ gần đây của mình mà họ tin là có liên quan đến đại dịch. Trong rất nhiều trường hợp, có thể nhìn thấy kết nối rõ ràng giữa chúng: nhiều người mơ nằm giường I.C.U. hoặc xét nghiệm dương tính với Covid hoặc tìm cách trốn tránh dịch bệnh. (Khảo sát này được thực hiện bằng tiếng Anh và cô nhận ra rằng điều này đã tạo ra một sự thiên bị trong dữ liệu, vì nó đã lọc ra những người tham gia khảo sát – có vẻ như – có quan tâm đến đại dịch, quan tâm đến giấc mơ của mình và sử dụng các phương tiện truyền thông tin tức có thể điều hướng họ đến với khảo sát của cô). Những giấc mơ khác mang nhiều tính ẩn dụ hơn nhưng vẫn có một số kết nối trực quan nhất định, kiểu chuyển đổi cảm xúc mà các nhà nghiên cứu giấc mơ quen xác định. Một giấc mơ phổ biến của loại này thường có những con quái vật lẩn trốn đâu đó không nhìn thấy, hay tấn công những người xung quanh một cách vô hình; trong một giấc mơ, con quái vật vô hình này chỉ có thể giết những người ở cách nó dưới 2m. Barrett cũng nhận thấy sự gia tăng trong hình ảnh về những con bọ, thường là những bầy côn trùng đáng sợ, có thể đây là một ẩn dụ vì nhiều người thường có xu hướng nghĩ đến những con bọ khi nghe về virus.
Vẫn còn những mối liên hệ khác không thực sự rõ ràng nhưng vẫn được cho là có liên quan đến đại dịch. (Ví dụ: một người mơ thấy Oprah Winfrey dùng một cái cưa đĩa để đe dọa những người trong phòng gym). Nhưng có rất nhiều người cố gắng để giải thích cho những mối liên hệ mà họ thấy trong giấc mơ của họ, như là một người mơ thấy một con dơi bay vào nhà mình và người đó dùng một bản sao dày của tờ The Washington Post để đánh đuổi nó. Trong giấc mơ, người này sợ bệnh dại, nhưng khi thức dậy người này nhớ ra rằng dơi cũng có thể là một nguồn lây virus gây ra Covid-19. Người mơ suy đoán rằng giấc mơ “có lẽ tượng trưng cho nhu cầu được trang bị đầy đủ thông tin, dữ liệu và kiến thức để bảo vệ bản thân khỏi loại virus vô hình đang nhanh chóng bao quanh nơi họ sống.”
Có những ngày hàng trăm giấc mơ được gửi đến, và Barrett mất hàng giờ để đọc chúng. Cô bắt đầu nhận ra các chủ đề và những sự tương động, mà sau đó cô đã khám phá ra thông qua phân tích thống kê và ngôn ngữ học. Phụ nữ, những người mà theo một số nghiên cứu khác gặp phải nhiều nguy cơ mất việc và căng thẳng hơn so với nam giới, cũng thấy những giấc mơ của họ thay đổi nhiều hơn: mức độ lo lắng, buồn phiền và giận dữ cao hơn rất nhiều so với những giấc mơ của họ ở thời kỳ trước dịch khi so sánh với các mẫu mà cô thu thập được trước đây. (Ngoài ra, hầu hết những giấc mơ mang cảm xúc lo lắng của phụ nữ có liên quan đến các vấn đề về việc học ở nhà). Và các giấc mơ về bệnh tật, như thường thấy khi cơ thể đang phải chống chọi với cơn sốt, thường kỳ quặc hơn nhưng cũng có nhiều điểm chung hơn – những ảo giác sống động nhưng kỳ lạ khiến người mơ khó có thể phân biệt được đâu là mơ đâu là thực. Một bệnh nhân covid có tên là Peter Fisk đã mô tả cảm giác tỉnh táo, cuộn người trên giường và suy nghĩ miên man về những ngày sống trong một căn nhà ấm cúng ở bờ sông. Sau đó anh viết: “Nhưng rồi, tôi chợt nhận ra rằng tôi chưa bao giờ thực sự sống ở đó cả. Đó là một ký ức giả về việc tôi là một con rái cá.”
Đối với những giấc mơ sau vụ 11/9, hầu hết những người bị ảnh hưởng nhiều nhất là những người chịu tác động trực tiếp của sự kiện này. Hơn 600 báo cáo giấc mơ từ các nhân viên y tế cho thấy có những câu chuyện giống nhau, được kể với một số những sai khác nhỏ: “Có một bệnh nhân hết sức nặng đang được họ chăm sóc, một thiết bị nào đó không hoạt động và bệnh nhân chết dần. Họ cảm thấy trách nhiệm rất nặng nề nhưng không kiểm soát được cái chết của bệnh nhân.” Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những giấc mơ của các nạn nhân chấn thương thường bắt đầu bằng diễn lại sự kiện đau thương đó một cách chi tiết, nhưng sau đó sẽ có thêm nhiều yếu tố mới và tuyến truyện mới tham gia vào, làm thay đổi cảm xúc của giấc mơ ban đầu. (Một số chuyên gia trị hiệu khuyến khí sự tiến hoá này, huấn luyện bệnh nhân tưởng tưởng và sau đó cố gắng mơ, để họ có thêm sức mạnh vượt qua sang chấn). Tuy vậy, trong trường hợp rối loạn căng thẳng hậu sang chấn, quá trình này có vẻ không hữu dụng lắm. Vì những cơn ác mộng điển hình của người mắc chứng rối loạn căng thẳng hậu sang chấn thường mang tính thực tế, lặp đi lặp lại các sự kiện đau thương đó với rất ít thay đổi.
Khi đại dịch tiến triển, các giấc mơ về căn bệnh này bắt đầu bị trộn lẫn với giấc mơ về những di chứng và hệ quả của nó, đặc biệt là cuộc sống trong thời kỳ lock down. Những giấc mơ này cũng có nhiều điểm tương đầu nhau ở nhiều quốc gia khác nhau, trừ việc chúng xuất hiện ở những thời điểm khác nhau, vì thời gian áp đặt và dỡ bỏ các hạn chế đối với việc di chuyển ở các quốc gia khác nhau là tương đối khác nhau. Barrett nhận thấy điều đã chia rẽ những giấc mơ này mang ít tính quốc gia hơn tính tình huống. Những người bị cách ly một mình thường mơ thấy cái gọi là “kịch bản phóng đại của sự cô lập và bị bỏ rơi”, ví dụ như: bị giam trong tù, mắc kẹt trên hoang đảo hoặc ở một mình trên tàu vũ trụ. Một người mô tả mình bị đưa lên sao hoả một mình mặc dù cô không hề tình nguyện. Ngược lại, người ta cũng mơ thấy những thứ hoàn toàn trái ngược, ví dụ như đánh mất quyền kiểm soát ngôi nhà của họ.
Đối với Barrett, các báo cáo này như một ô cửa sổ kỳ lạ nhưng cực kỳ thân mật để nhìn vào một đại dịch đang tiến triển dưới một con mặt khác, đa dạng hơn. Khi các nhân viên y tế ở Ý phải trải qua những cơn ác mộng rất thực về việc gặp vấn đề khi đặt ống nội khí quản, những người ở Mỹ lại thường mơ thấy những mối đe dọa rùng rợn đang tiếp cận họ nhưng chưa hiện hình. Trong khi người Trung Quốc nhanh chóng mơ thấy những chiếc khẩu trang thì phải mất một thời gian rất lâu sâu biểu tượng khẩu trang mới xuất hiện trong những giấc mơ của người Mỹ. Khi người Mỹ bắt đầu mơ thấy khẩu trang, điều họ thường mơ thấy là bất thình lình nhận ra mình quên mang khẩu trang, hoặc mang sai cách, theo đó là nỗi sợ họ đã tiếp xúc với virus hoặc làm lây lan virus cho người khác. Mặc dù vậy, đến mùa thu, phản ứng cảm xúc trước những giấc mơ như vậy thay đổi, từ sợ hãi chuyển sang xấu hổ: người ta sẽ suy nghĩ gì về mình? Barrett cho hay: “Dường như những giấc mơ như thế này đang dần thay thế giấc mơ ‘khoả thân nơi công cộng’ cổ điển.”
Thời gian trôi qua và đại dịch vẫn tiếp diễn, Barrett nhận thấy có nhiều giấc mơ dạng hậu tận thế hơn, trong đó thường có một nhóm nhỏ những người sống sót trong những thế giới nguy hiểm và đã thay đổi. Một người tham gia khảo sát chia sẻ: “Tôi đã mơ thấy rằng mình không thể nào quay lại cuộc sống bình thường được nữa, tôi già đi và sống trong khu cách ly với những đứa cháu tương lai của mình.”
Một người khác cho biết: “Tôi mơ thấy rằng nhân loại đang dần dần biến mất, và cách duy nhất để cảm thấy rằng mọi người vẫn ở đó là bản thân tôi phải dùng hết năng lực lý trí của mình để ép mình nhớ đến họ.”
Một trong những cuốn từ điển về giấc mơ đầu tiên được biết đến đã được viết cách đây 3100 năm ở Trung Quốc cổ đại. Tác giả của nó là một thành viên của triều đại nhà Chu; nội dung của nó được sắp xếp dựa trên các yếu tố chủ đề trong mơ (những giấc mơ về mặt trời, mặt trăng và các vì sao xuất hiện trước những giấc mơ về giày, vớ và quần áo), sẽ có thể quen thuộc với những người đã mua một cuốn hướng dẫn giấc mơ hiện đại trong đó các mô-típ của giấc mơ dường như đại diện cho một ý nghĩa sâu sắc hơn. Cuốn sách này cho rằng, nếu gió thổi bay quần áo của bạn trong một giấc mơ, thì có nghĩa là bạn sắp mắc một bệnh gì đó.
Erin Wamsley, một nhà tâm lý học nghiên cứu những giấc mơ tại Phòng thí nghiệm Giấc ngủ của Đại học Furman, Nam Carolina, đã phải giải thích với rất nhiều người hỏi về công việc của cô rằng cô ấy sẽ không giải thích những giấc mơ của họ vì đó không phải là cách thức mà những giấc mơ hoạt động. Khi tôi hỏi Wamsley rằng tại sao quan điểm rằng những giấc mơ hoạt động như một loại mật mã lại tồn tại lâu đến vậy, cô chỉ ra rằng người ta có xu hướng xem giấc mơ như một thông điệp khó hiểu đến từ siêu nhiên, vốn xuất hiện độc lập trong nhiều nền văn hoá đã từ rất lâu trước khi các lý thuyết của Freud ra đời. Những giấc mơ có vẻ kỳ lạ và vô nghĩa và về cơ bản là nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, cho nên, người ta có xu hướng tin rằng “có vẻ như những gì xuất hiện trong giấc mơ phải đến từ một nơi nào đó khác.”
Ngược lại, các nghiên cứu về giấc mơ đã chỉ ra rằng hầu hết những gì chúng ta thấy trong mơ đều có nguồn gốc từ những gì có trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta mơ về những trải nghiệm cụ thể mà chúng ta đã có, những vấn đề mà chúng ta đang quan tâm và lo lắng, những người thực và nơi chốn thực mà chúng ta biết. Từ trước đến nay, chúng ta chính là vị thần trong cỗ máy sản xuất giấc mơ đó.
Không có gì ngạc nhiên khi những nỗi sợ và trải nghiệm mới lạ về đại dịch lại xuất hiện trong giấc mơ của chúng ta. Mặc dù nghiên cứu của Barrett chỉ tập trung vào những giấc mơ có liên quan đến đại dịch – cô không biết gì về những giấc mơ khác của những người tham gia khảo sát – nhưng nhiều nghiên cứu khác đã cố gắng có được một cái nhìn rộng hơn. Một nghiên cứu trên 796 người Ý trong giai đoạn tháng 4-5/2020 cho thấy rằng có 20% giấc mơ gần đây của những người tham gia có xuất hiện các yếu tố có liên quan đến Covid-19 một cách rõ ràng. Các báo cáo mô tả về giấc mơ ở người Brazil trưởng thành sống trong các khu lockdown thường có sự xuất hiện một cách bất thường của những từ mang tính giận dữ hoặc buồn bã, ô nhiễm và sạch sẽ. Nielsen, cùng với phòng thí nghiệm của mình ở Montreal, đã thu thập và phân tích nhiều ví dụ về các giấc mơ trong thời kỳ đại dịch, bao gồm các mô tả về giấc mơ mà người ta chia sẻ trên Twitter, nhận thấy rằng các giấc mơ này thường xuất hiện các yếu tố về việc điều hướng các mối quan hệ mới với đám đông và giãn cách xã hội – thường với một nhận thức mang tính đột ngột và cảnh báo rằng thứ mà lúc đầu tưởng bình thường và vui nhộn lại không còn an toàn nữa. Khi Nielsen so sánh các giấc mơ trong thời kỳ đại dịch với các giấc mơ ở thời điểm trước đó, anh nhận thấy một sự gia tăng rõ rệt ở số lượng người bị giật mình hoặc trở nên bơ vơ bởi sự bất đồng trong những giấc mơ của họ khiến họ tỉnh giấc.
Một nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy những người có nhiều vấn đề phiền não hơn trong đời sống thực báo cáo nhiều giấc mơ có liên quan đến đại dịch hơn. Trong một nghiên cứu ở Phần Lan, thuật toán phân tích ngôn ngữ cho thấy hơn một nửa số giấc mơ chưa các nội dung liên quan đến đại dịch, như lo lắng về giãn cách xã hội, ô nhiễm hay những người già gặp khó khăn. Đời sống trong mơ và hiện thực gắn liền với nhau nhiều đến mức các nhà nghiên cứu bắt đầu tự hỏi liệu việc các phương tiện truyền thông đưa tin về những giấc mơ thời kỳ đại dịch – đặc biệt là các mô-típ cụ thể như những bầy côn trùng mà Barrett thường nhắc đến – có tạo ra một vòng lặp phản hồi, làm cho người ta mơ về những giấc mơ mà người ta đã đọc ở đâu đó hay không.
Tuy nhiên điều mà các nhà lý thuyết về giấc mơ đang cố gắng hiểu là tại sao hoặc như thế nào mà giấc mơ lại kết hợp các yếu tố khác nhau trong ký ức và trải nghiệm của chúng ta để tạo thành những câu chuyện hoàn toàn mới và cực kỳ phức tạp với các chi tiết và sự kiện bất ngờ. Ví dụ, nghiên cứu đã chỉ ra rằng một nửa số người mà chúng ta tương tác trong mơ là người thực mà chúng ta quen biết, nhưng một nửa số còn lại là những nhân vật mang tính tổng hợp, do não chúng ta phát minh ra hoặc mang những vai trò chung như cảnh sát, thủ thư… (Nhà tâm lý học Kelly Bulkeley đã lập luận rằng con người ngày nay mơ về những người nổi tiếng cũng giống như cách người Hy Lạp cổ đại mơ về các vị thần vậy: đây chỉ là những nhân vật sống trong đầu của chúng ta). Và mặc dù có rất nhiều bối cảnh trong mơ có vẻ rất quen thuộc với chúng ta, nhưng chỉ 1/3 trong số chúng là những nơi mà chúng ta có thể hoàn toàn nhận ra được. Các yếu tố của cuộc sống gần đây có thể xuất hiện, nhưng chỉ là một vài trong số đó, và không xuất hiện trở lại. Thay vào đó, chúng bị xáo trộn với nhau cùng những kết nối mới lạ và những mảnh ký ức cũ và tái cấu trúc lại thành những câu chuyện hoàn toàn mới. Nielsen mô tả sự hoàn nguyên đầy kịch tính của giấc mơ đối với thế giới thực như “trải nghiệm đã được đưa qua một cái máy cắt và được lắp ráp lại cùng với nhiều phụ gia được thêm vào.” Nhưng tại sao quá trình “ráp lại” này diễn ra?
Wamsley, người nghiên cứu cách giấc mơ tương tác với ký ức, lưu ý rằng các nguồn ký ức khác nhau bị trộn lẫn trong giấc mơ nhiều đến mức các cú sốc trong những giai đoạn khác nhau của cuộc đời cùng tồn tại trong đó đôi khi có thể tạo ra một loại chấn động nhất thời – như là khi bạn mơ đang đi chung với người yêu cũ thì bất thình lình nhớ ra là bạn đã kết hôn rồi, hay khi bạn đang mơ lại một chuyện đã xảy ra ở tiểu học thì bạn nhớ ra bạn đã 40 tuổi rồi. Ngay cả những người sáng suốt nhất trong mơ, những người về cơ bản nhận thức được rằng họ đang mơ để có thể kiểm soát phần nào đó những gì diễn ra trong giấc mơ của họ – ví dụ như chọn việc bay hoặc đi du lịch đến Paris – cũng thường phải đối mặt với sự thật rằng họ có rất ít quyền kiểm soát ở địa hạt này. Họ có thể chọn bối cảnh diễn ra giấc mơ nhưng không phải việc các chi tiết có trong đó sẽ trông như thế nào, họ có thể cho một nhân vật xuất hiện nhưng không thể dự đoán được người này sẽ nói gì. Nhà toán học Robert Wayne Thomason từng có một bước đột phá trong một vấn đề của ông sau khi bạn ông, Thomas Trobaugh đã đưa ra cho ông một lời gợi ý trong mơ. Mặc dù Trobaugh đã mất trước thời điểm giấc mơ diễn ra 3 tháng, nhưng Thomason cho rằng vẫn nên để tên bạn mình dưới danh nghĩa đồng tác giả.
Zadra nói với tôi rằng thật ngạc nhiên khi thấy ý thức của chúng ta bị chặn khỏi quá trình vô thức của việc tạo ra giấc mơ. “Bất cứ khi nào một nhân vật nói điều gì làm bạn ngạc nhiên thì chính bạn cũng thực sự ngạc nhiên.”
Cuối cùng thì Barrett đã thu thập được hơn 15000 giấc mơ. Khi nói chuyện với cô ấy lần đầu tiên vào tháng 6 năm 2021, việc tiếp cận vaccine đã được phổ biến. Những giấc mơ đã trở nên lạc quan hơn, ngoài ra cũng xuất hiện thêm những giấc mơ về nỗi lo khi trở lại trường học và quay lại công sở. Mỗi ngày trôi qua, vẫn sẽ có không ít người muốn các nhà khoa học biết những gì đại dịch đã gây ra cho những giấc mơ của họ – hy vọng là sẽ sớm có ai đó có thể cho họ biết tại sao.
Bây giờ đã là năm thứ hai của đại dịch và các biến thể mới đang nhanh chóng lan rộng. Mọi người bắt đầu gửi đến những giấc mơ đầy sợ hãi, nhắc nhở Barrett về các báo cáo giấc mơ trong những ngày trước đó, cũng như những giấc mơ phần nào thể hiện sự mất phương hướng của họ khi đại dịch ngày một trở nên nguy hiểm. Một lần nữa, người ta lại mơ thấy mình đi du lịch trên một bãi biết mà trước đây có vấn đề với những con ong bắp cày nhưng sau đó được tuyên bố an toàn. Rồi bỗng nhiên những con ong bắp cày xuất hiện trở lại và tấn công họ.
Barrett xem những giấc mơ mà người ta gửi đến cho cô về việc quên đeo khẩu trang hoặc vô tình đến dự những bữa tiệc như một cách để “thực hành” các hành vi mới hoặc điều hướng thực tế mới. (Cũng giống như giấc mơ về những viên cà rốt, hầu hết mọi người mơ thấy họ đang tổ chức một buổi tiệc nhỏ, nhưng sau đó chúng nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát). Cách giải thích này phù hợp với một vài lý thuyết do nhà nghiên cứu người Phần Lan Antti Revonsuo đưa ra: lý thuyết mô phỏng mối đe dọa và đối tác của nó, lý thuyết mô phỏng xã hội. Các lý thuyết này cho rằng giấc mơ được phát triển như một cơ chế bảo vệ tiến hoá và chúng mang đến cho chúng ta cơ hội để thực hành các phản ứng của chúng ta đối với các tình huống đe doạ cũng như các tình huống xã hội – với bị xã hội hoá là chìa khoá cho sự sống còn của loài linh trưởng – trong một thực tế ảo. Tại Phần Lan, Katja Valli, một nhà nghiên cứu ở đại học Turku đang phân tích các giấc mơ trong thời kỳ đại dịch để xem liệu chúng có ủng hộ giả thuyết về việc những giấc mơ mô phỏng các mối đe dọa hay không. Để bối cảnh hoá những giấc mơ này tốt hơn, cô cũng yêu cầu những người tham gia nghiên cứu ghi lại những suy nghĩ mông lung của họ khi thức và nhiều chi tiết khác về sức khỏe tinh thần của họ. Các kết quả ban đầu chưa được công bố cho thấy người tham dự gặp phải nhiều mối đe doạ hơn thời điểm trước dịch.
Có một loạt lý thuyết khác có thể được áp dụng cho những giấc mơ về đại dịch. Blagrove, một nhà tâm lý học người anh, có một lý thuyết chấp nhận rằng giấc mơ là một loại tàn tích của những suy nghĩ mông lung trong đầu chúng ta khi thức, nhưng gợi ý rằng nó vẫn mang một chức năng tiến hoá nhất định: thúc đẩy sự liên kết và đồng cảm khi chúng ta chia sẻ các giấc mơ với nhau. (Anh ấy đưa ra giả thuyết này sau khi nghệ sĩ Julia Lockheart bắt đầu tổ chức các sự kiện trực tuyến khám phá các giấc mơ của người làm nghề y trong thời kỳ đại dịch). Ernest Hartmann, một bác sĩ tâm thần kiêm người sáng lập tạp chí Dreaming, đã đề xuất rằng giấc mơ giống như một liệu pháp trị liệu, tạo ra một nơi an toàn để xử lý các ký ức, đặc biệt là các ký ức đau thương, cho phép chúng ta lưu trữ các ký ức nằng mà không bị choáng ngợp bởi những cảm xúc mạnh mẽ mà chúng mang lại. Nhà tâm lý học Rosalind Cartwright trong một loạt các nghiên cứu tiên phong đã phát hiện ra rằng trong một nhóm bệnh nhân trầm cảm vì ly hôn, những người mơ về những mối quan hệ đổ vỡ là những người hồi phục nhanh nhất khỏi bệnh trầm cảm. Cô viết: “Giấc mơ là một phương cách chữa lành tự nhiên. Chúng hoạt động trong lúc chúng ta ngủ giống như cách mà các nhà trị liệu tâm lý giỏi làm việc lúc chúng ta thức, bằng cách liên hệ những mô thức giải quyết vấn đề cũ và mới với nhau để cho phép chúng ta vượt qua những thời điểm tồi tệ.”
Khó khăn trong việc việc tách biệt các tác động của giấc mơ khiến cho các lý thuyết về chức năng của giấc mơ khó được kiểm nghiệm. Các giấc mơ về đại dịch có khả năng xử lý vấn đề này: cô lập tác động của giấc mơ với giấc ngủ, tiếp cận một trải nghiệm thuần túy chủ quan và nhanh chóng bị quên lãng. Zadra nói với tôi rằng anh tin giá trị của giấc mơ không nằm trong những gì mà người ta nhớ được về nó sau khi nó diễn ra, như thể nó là một bộ phim mà bạn đã xem. Thay vào đó, điều quan trọng là giấc mơ đã được tạo ra và trải nghiệm – những cảm xúc đã được cảm nhận, những phản ứng của con người và các sự kiện, xem cách các nhân vật và tình huống trong mơ phản ứng với bạn – và sau đó thức dậy, trở thành một người hơi khác đi, dù ký ức có ý thức về giấc mơ có ở lại hay không.
Các nhà nghiên cứu luôn làm việc để thiết kế các công trình nghiên cứu nhắm mục tiêu chính xác hơn nhằm cho phép tách biệt các yếu tố gây nhiễu tốt hơn. Khoảng 20 năm trước, Stickgold và một vài đồng sự ở Harvard và Trung tâm Sức khỏe Tinh thần Massachusetts đã thiết kế một nghiên cứu nổi tiếng hiện nay. Nó cho thấy rằng những người chơi Tetris có mơ thấy nó trong giấc mơ thì khi chơi lại, kỹ năng của họ được cải thiện hơn nhiều so với những người không mơ. Đáng chú ý hơn nữa là Stickgold cũng thực hiện nghiên cứu này trên một nhóm nhỏ những người bị mất trí nhớ ngắn hạn do tổn thương não. Các thành viên trong nhóm này nhanh chóng quên là họ đã từng chơi Tetris và thậm chí còn không nhớ được Tetris là gì, nhưng họ vẫn báo cáo rằng họ mơ thấy mình sắp xếp những hình khối rơi xuống.
Kể từ đó, có thêm nhiều nghiên cứu khác thử nghiệm mối quan hệ giữa giấc mơ và việc học, bao gồm nỗ lực gần đây của Nielsen trong việc dùng âm thanh để kích hoạt giấc mơ về một nhiệm vụ cụ thể. Chúng ta biết rằng người ta thường mơ về những thứ mới mẻ mà họ đang học, và người ta thường có xu hướng làm việc đó tốt hơn sau khi nó xuất hiện trong giấc mơ của họ. (Một số nhà nghiên cứu chỉ ra rằng những làm nhiệm vụ đó tệ hơn người khác lúc đầu thường có xu hướng là những người mơ thấy nó và sau đó tiến bộ nhanh hơn: Liệu giấc mơ có thực sự giúp họ không, hay nó chỉ phản ánh rằng não bộ của họ vẫn tiếp tục làm việc với vấn đề đó trong lúc ngủ?)
Một vài nhà nghiên cứu hiện nay đưa ra giả thuyết rằng giấc mơ đóng vai trò trung tâm của giấc ngủ trong việc giúp chúng ta chuyển ký ức từ khu lưu trữ ngắn hạn đến khu lưu trữ dài hạn, một quá trình bao gồm việc lựa chọn nên lưu giữ ký ức nào và quên ký ức nào và lưu trữ nó như thế nào. Trong một nghiên cứu, người tham gia được yêu cầu ghi nhớ một danh sách các từ, và đọc thuộc lòng chúng sau giấc ngủ REM. Những người này không nhớ hết được tất cả các từ gốc nhưng đã thay thế chúng với các từ có ý nghĩa tương đương. Trẻ sơ sinh dành hơn một nửa thời gian ngủ của chúng để cho giai đoạn ngủ REM, thường cần ngủ nhiều hơn để giúp xử lý các kiến thức và ký ức mới. Một nghiên cứu trên trẻ 15 tháng tuổi cho thấy những đứa trẻ có thể ngủ một chút sau khi nghe một ngôn ngữ đơn giản mới được phát minh có thể nhận ra quy tắc và mô thức của nó, và phát hiện “ngữ pháp” của câu nói sau này là đúng hay sai. Trong thời gian dịch, Erik Hoel, một giáo sư sinh học tại Đại học Tufts đã nghiên cứu về lĩnh vực học máy để làm cơ sở lập luận rằng não người, cũng giống như máy tính, có thể bị mắc kẹt trong các hoạt động phân tích nếu không có đủ kích thích mới để kiểm nghiệm các lý thuyết mà nó chống lại, và các yếu tố gây ngạc nhiên và phí lý nhất của giấc mơ giúp cho não của chúng ta tránh khỏi tình trạng bị ngưng trệ hay không thể hiểu được thông tin mới.
Khi trạng thái ngủ REM lần đầu tiên được phát hiện, các nhà tâm lý học gọi nó là “giấc ngủ nghịch lý,” vì các hoạt động điện não trong quá trình ngủ REM không khác gì so với khi chúng ta thức. Nhưng các nhà nghiên cứu hiện nay đã biết rằng bộ não đang mơ hoạt động một cách tương đối khác. Một số chất dẫn truyền thần kinh quan trọng (như noradrenaline, vốn tăng cao trong những thời điểm căng thẳng) bị giảm xuống, trong khi những một số chất khác (như dopamine và acetylcholine, có liên quan đến cảm xúc và trí nhớ) được tăng lên; các khu vực liên quan đến kích thích thị giác, chuyển động, cảm xúc và ký ức tự truyện đều trở nên rất linh hoạt, trong khi đó các vùng não liên quan đến logic, ra quyết định, và thúc đẩy kiểm soát lại bị giảm hoạt động. Não bộ cũng có vẻ ưu tiên cho các yếu tố trừu tượng, mới là và rối loạn mà nó không thể hiện khi chúng ta thức: Các đối tượng nghiên cứu sau khi thức dậy khỏi giấc ngủ REM và được yêu cầu giải các câu đố chữ có xu hướng giải quyết được vấn đề nhanh hơn khi hoàn toàn tỉnh táo, họ dường như cũng ít cân nhắc thận trọng hơn và thiên về trực giác nhiều hơn, và có xu hướng ủng hộ các mối liên hệ yếu hơn, xa hơn và ít rõ ràng hơn giữa các khái niệm. Walker giải thích: “Chúng ta không còn bị hạn chế trong việc quan sát các kết nối điển hình và hiển nhiên nhất giữa các đơn vị bộ nhớ. Ngược lại, bộ não trở nên chủ động thiên vị việc tìm kiếm các kết nối xa xôi hơn và ít rõ ràng hơn giữa các tập thông tin.”
Zadra và Stickgold lập luận rằng những bước nhảy vọt này giải thích cho sự kỳ quặc của thế giới trong mơ. Chúng không xuất hiện trong “ánh sáng của ngày, khi não của chúng ta chủ yếu phải đối phó với các cảm giác mới và cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh trong não được tối ưu hoá để xử lý các thông tin ở đây vào thời điểm hiện tại.” Trong khi đó không phải là loại tối ưu hoá được dùng để phục vụ một mục đích rõ ràng, họ tin rằng chế độ ngược lại cũng cần thiết. Vào ban ngày, não bộ của chúng ta bận rộn phân loại và phản ứng với các yếu tố thực tế và tức thì, nhưng ban đêm, công việc của chúng là đi lang thang càng nhiều càng tốt.
Họ viết: “Cứ mỗi hai tiếng đồng hồ thức giấc, tiếp nhận thông tin mới, có vẻ như não của chúng ta cần phải ngắt kết nối với tất cả các đầu vào này trong vòng một tiếng để có thể hiểu được ý nghĩa của chúng.”
Khi một đứa trẻ được hỏi giấc mơ của chúng diễn ra ở đâu, chúng thường trả lời những câu đại loại như “trong phòng ngủ của cháu” hay “trước mắt chau”. Thường mất nhiều năm phát triển nhận thức để hiểu rằng điều mà chúng thấy hay trải nghiệm là những thứ diễn ra trong đầu chúng, tách biệt khỏi thực tế và vô hình với người khác. Hay nói cách khác, chúng ta được sinh ra để tin vào những giấc mơ, và chúng ta dần dần từ bỏ niềm tin đó để sống trong thế giới hiện thực.
Nhưng tất nhiên là chúng ta không hoàn toàn quên hẳn nó. Chúng ta khăng khăng muốn được giải thích rõ ràng về những điều vô nghĩa trong chuyến phiêu lưu ban đêm mà chúng ta đã trải qua dù chỉ nhớ được một vài chi tiết trong số đó. Đôi khi chúng ta tiếp tục cảm nhận được những cảm xúc còn sót lại từ những giấc mơ đó – chẳng hạn như nuôi dưỡng mối thù hận đối với một người tuy trong đời thực họ không làm gì sai với ta – sau khi chúng ta đã quên đi chính giấc mơ của mình. Chúng ta tiếp tục hỗ trợ toàn bộ ngành từ điển giấc mơ.
Kể cả John Allan Hobson, người đã giúp đưa ra giả thuyết rằng giấc mơ là là một kết quả của những sợi thần kinh hoạt động tình cờ trong lúc ngủ, cũng đã bị mê hoặc bởi những giấc mơ của chính ông. Ông ấy đã kể rất chi tiết những giấc mơ của mình trong nhật ký, hàng thập kỷ mở – ông từng kể, giấc mơ mà ông ấy thích nhất là chạy nhẹ nhàng như bay qua dãy núi Alps ở Thuỵ Sĩ – và xuất bản một cuốn sách kể về 13 giấc mơ của ông, trong đó ông phân tích cụ thể sự kết hợp của nhiều sự kiện khác nhau trong cuộc sống và các kích thích não có thể đã làm xuất hiện những giấc mơ đó. Cuối cùng, ông bắt đầu lập luận rằng giấc mơ có thể vừa mang tính ngẫu nhiên vừa có ý nghĩa sâu sắc: rằng chúng đã kích hoạt sự phát triển của ý thức.
Khi Barrett nhận các cuộc điện thoại kể cho cô nghe về giấc mơ của họ, cô nhận thấy nhiều người có động cơ cá nhân cũng như mục đích giáo dục: hết người này đến người khác mô tả giấc mơ về khẩu trang hoặc các bữa tiệc hoặc bệnh rất hay sự cô lập. Một số dường như chỉ tò mò về cách những giấc mơ hoà hợp với các xu hướng lớn hơn, trong khi một số khác dường như coi giấc mơ của họ mang các thông điệp bí ẩn do một thế lực bên ngoài hoặc tiềm thức của chính họ gửi đến, chờ được một người phù hợp giải mã.
Barrett đã cho họ biết rằng cô không thể giúp họ làm điều đó. Cô luôn coi giấc mơ là một cái gì đó phức tạp hơn và đơn giản hơn so với các lý thuyết xoay quanh chúng. Cô nói với tôi: “Chúng ta không bao giờ thắc mắc chuyện “ý thức của chúng ta có ý nghĩa gì? – Nó dành cho mọi thứ.”” Cô xem giấc mơ về cơ bản là một cách suy nghĩ khác, được kiểm soát bởi một não trạng khác với những quy tắc riêng và khả năng riêng của nó. Cô từng viết: “Trên hết, giấc mơ là một khoảng thời gian khi những phần chưa bao giờ được nghe thấy trong chúng ta có thể cất tiếng. Chúng ta hãy lắng nghe chúng.”
Một thời gian ngắn sau giấc mơ thư viện, Barrett có một giấc mơ khác mà cô nhận ra là về đại dịch. Trong đó, cô đưa con mèo của mình là Morpheus ra ngoài thông qua một đám mây khí độc hại. Cả hai đều trùm mũ bảo vệ trông giống như mặt nạ phòng độc. Sau đó một quãng thời gian rất dài, cô không hề có ký ức nào về một giấc mơ về đại dịch khác, kể cả khi cô dành rất nhiều thời gian đọc về những giấc mơ đáng sợ của người khác.
Sau nhiều tháng, cô có một giấc mơ khác. Trong đó cô đang cầm một cái gì đó giống như điện thoại, trong đó có một ứng dụng đang chiếu ra các hình ảnh ba chiều phát sáng của những giấc mơ của người khác. Cô lướt qua chúng từng cái một, và mỗi hình chiếu cho thấy một ảnh tĩnh mà bằng cách nào đó đã có thể chuyển tải tất cả các chi tiết và chiều sâu cảm xúc mà giấc mơ đó mang lại. Giấc mơ diễn ra trong một căn phòng khách kiểu những năm 50, có một sinh vật giống chó với những chiếc răng lớn sắc nhọn. Mỗi hình ảnh được chiếu ra từ màn hình điện thoại, Barrett thấy mình lo lắng cho người mơ thấy giấc mơ đó, nhưng không thể làm gì để giúp đỡ họ.
Cô chạm trán với một con quỷ ốm yếu màu vàng với cái đầu giống như virus corona, một vương miện bằng các gai protein nhọn trên phần cơ thể giống người nhưng gớm ghiếc. Điều gì đó thôi thúc cô vươn tới ôm lấy con quái vật đó. Cái ôm đó, trước sự ngạc nhiên của cô, đi qua cơ thể con quái vật. Cuối cùng, trong mơ, cô cũng xoay sở để làm được điều mà con người tỉnh táo của cô mong muốn, đó là đi qua giấc mơ để tìm thấy người đang mơ.



Bình luận về bài viết này