Thuỳ sưu tầm và biên dịch

Goethe từng nói: “Ngôn từ cốt ở cái trái ngọt mà nó mang đến – tức là những lợi ích mà nó mang lại. Những gì chúng ta tri giác bằng mắt vốn xa lạ với ta và không cần phải gây ấn tượng sâu sắc cho ta”. Thế nhưng, dù bản thân là một trí thức và là một trong những bậc thầy tối cao về ngôn ngữ, Goethe không phải lúc nào cũng đồng ý với đánh giá của chính mình về ngôn từ.  Vào tuổi trung niên, ông viết: “Chúng ta nói quá nhiều. Chúng ta nên nói ít đi và vẽ nhiều hơn. Cá nhân tôi muốn từ bỏ hoàn toàn lời nói và, giống như Tự nhiên, truyền đạt mọi điều tôi muốn nói thông qua các bản phác hoạ. Cây sung kia, con rắn nhỏ này, cái kén trên bệ cửa sổ đang lặng lẽ chờ đợi tương lai của nó — tất cả đều là những dấu ấn quan trọng. Một người có khả năng giải mã đúng đắn ý nghĩa của chúng có thể hoàn toàn không cần đến chữ viết hay lời nói. Càng nghĩ, tôi càng thấy có điều gì đó phù phiếm, tầm thường, thậm chí (tôi muốn nói là) phù hoa ở lời nói. Ngược lại, sự trầm mặc và tĩnh lặng của Tự nhiên làm bạn kinh ngạc biết bao, khi bạn đứng đối diện với mẹ thiên nhiên, không chút xao lãng, trước một sườn núi cằn cỗi hay trong sự hoang vu của những ngọn đồi cổ xưa.”

Chúng ta không bao giờ có thể từ bỏ ngôn ngữ và các hệ thống biểu tượng khác; vì chính nhờ chúng, và chỉ nhờ chúng, mà chúng ta đã nâng mình lên trên loài cầm thú để đạt đến cấp độ con người. Nhưng chúng ta cũng dễ dàng trở thành nạn nhân cũng như người hưởng lợi từ các hệ thống này. Chúng ta phải học cách sử dụng từ ngữ  một cách hiệu quả; nhưng đồng thời chúng ta phải bảo tồn và, nếu cần, tăng cường khả năng nhìn nhận thế giới một cách trực tiếp chứ không phải thông qua môi trường nửa đục nửa trong của các khái niệm  — thứ bóp méo mọi sự thật hiển nhiên thành những ý niệm chung chung hoặc những giải thích mang tính trừu tượng vốn đã quá quen thuộc.

Dù là văn chương hay khoa học, khai phóng hay chuyên biệt, toàn bộ nền giáo dục của chúng ta chủ yếu vẫn dựa trên ngôn từ và do đó thất bại trong việc thỏa mãn những kỳ vọng mà chúng ta đặt ra cho nó. Thay vì biến trẻ em thành những người trưởng thành phát triển toàn diện, nó lại cho ra lò những sinh viên khoa học tự nhiên hoàn toàn không nhận thức được Tự nhiên như một thực tế cơ bản của của trải nghiệm, nó đưa đến thế giới những sinh viên nhân văn không biết gì về bản chất con người, của chính họ hay của bất kỳ ai khác.

Các nhà tâm lý học Gestalt, như Samuel Renshaw, đã đề ra các phương pháp để mở rộng phạm vi và tăng cường độ nhạy bén của tri giác con người. Nhưng liệu các nhà giáo dục của chúng ta có áp dụng chúng? Câu trả lời là: Không.

Các giáo viên trong mọi lĩnh vực kỹ năng thể chất – tinh thần, từ thị giác đến tennis, từ đi dây thăng bằng đến cầu nguyện, đã thông qua thử và sai để khám phá ra những điều kiện vận hành tối ưu trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Nhưng liệu có bất kỳ Quỹ lớn nào tài trợ cho một dự án kết hợp những phát hiện thực nghiệm này thành một lý thuyết và thực hành tổng quát về việc nâng cao khả năng sáng tạo? Một lần nữa, theo như tôi được biết, câu trả lời là: Không.

Đủ mọi kiểu giáo phái và những kẻ kỳ quặc dạy đủ loại kỹ thuật để đạt được sức khỏe, sự mãn nguyện, sự bình an trong tâm hồn; và đối với nhiều người nghe, nhiều kỹ thuật trong số đó tỏ ra hiệu quả rõ rệt. Nhưng liệu chúng ta có thấy những nhà tâm lý học, triết gia và giáo sĩ đáng kính nào mạnh dạn bước xuống những cái giếng sâu kỳ lạ và đôi khi bốc mùi khó chịu đó, nơi mà Chân lý đáng thương thường bị kết án phải ngồi ở dưới đáy? Một lần nữa, câu trả lời là: Không.

Trong một thế giới mà giáo dục chủ yếu dựa vào ngôn từ, những người có học vấn cao thường cảm thấy gần như không thể chú ý một cách nghiêm túc đến bất cứ điều gì ngoài từ ngữ và khái niệm. Luôn có tiền, luôn có học vị tiến sĩ cho những nghiên cứu ngớ ngẩn về cái vấn đề quan trọng nhất đối với các học giả: Ai đã ảnh hưởng đến ai để nói cái gì vào lúc nào? Ngay cả trong thời đại công nghệ này, những ngành nhân văn dựa trên ngôn từ vẫn được tôn vinh. Còn những ngành nhân văn phi ngôn từ — nghệ thuật nhận thức trực tiếp về những sự thật hiển nhiên trong cuộc sống của chúng ta — thì gần như bị phớt lờ hoàn toàn. Một danh mục, một thư mục, một ấn bản cuối cùng về về những câu thơ hay nhất của một nhà thơ hạng ba, một chỉ mục vĩ đại nhất để chấm dứt mọi chỉ mục — bất kỳ dự án nào mang tính hàn lâm kiểu Alexandria đều chắc chắn nhận được sự chấp thuận và hỗ trợ tài chính.

Nhưng khi bàn đến việc tìm hiểu xem bạn và tôi, con cái và cháu chắt chúng ta, làm thế nào để trở nên tinh tường hơn, nhận thức mãnh liệt hơn về thực tại bên trong và bên ngoài, cởi mở hơn với Tâm linh, ít có xu hướng tự làm mình ốm yếu về thể chất bằng bằng các hành vi tâm lý sai lạc, và có khả năng kiểm soát hệ thần kinh tự chủ của chính mình tốt hơn — khi bàn đến bất kỳ hình thức giáo dục phi ngôn từ nào căn bản hơn (và có khả năng mang lại những lợi ích thực tế hơn) bài thể dục Thụy Điển, thì không có một người thực sự đáng kính nào trong bất kỳ trường đại học hay giáo hội thực sự đáng kính nào đoái hoài đến. Những người theo chủ nghĩa ngôn từ luôn nghi ngờ trí tuệ phi ngôn từ; những kẻ lý tính sợ hãi những sự thật phi lý tính, tồn tại khách quan; giới trí thức cảm thấy rằng “những gì chúng ta tri giác bằng mắt (hay bằng bất kỳ cách nào khác) vốn xa lạ với ta và không cần phải gây ấn tượng sâu sắc cho ta.”

Bên cạnh đó, vấn đề giáo dục nhân văn phi ngôn từ này sẽ không thể gói gọn vào bất kỳ khuôn khổ nào đã được thiết lập. Nó không phải tôn giáo, không phải thần kinh học, không phải thể dục, không phải đạo đức hay giáo dục công dân, thậm chí không phải tâm lý học thực nghiệm. Chính vì vậy, chủ đề này đối với các mục đích học thuật và giáo hội là không tồn tại, và có thể yên tâm bị bỏ qua hoàn toàn hoặc phó mặc, với một nụ cười trịch thượng, cho những người mà các “Pharisee” của chính thống ngôn từ gọi là những kẻ gàn dở, lang băm, bịp bợm và những tay nghiệp dư không đủ trình độ.

Blake đã viết với giọng điệu khá cay đắng: “Tôi luôn thấy rằng các Thiên thần có cái tính tự phụ khi tự xưng mình là những người duy nhất thông thái. Họ làm điều đó với vẻ ngạo mạn đầy tự tin xuất phát từ lý luận có hệ thống.”

Lý luận có hệ thống là thứ mà chúng ta, với tư cách là một loài hay là những cá nhân, không thể nào thiếu được. Nhưng chúng ta cũng không thể nào giữ được sự tỉnh táo nếu thiếu đi khả năng tri giác và nhận thức trực tiếp — càng phi hệ thống càng tốt — về thế giới bên trong và bên ngoài nơi chúng ta được sinh ra. Thực tại là vô hạn, vượt quá mọi hiểu biết nhưng vẫn cho phép chúng ta nhận thức trực tiếp và trọn vẹn ở một mức độ nào đó. Đó là một sự siêu việt thuộc về một trật tự khác với con người, nhưng nó vẫn có thể hiện diện với chúng ta như một nội tại có thể cảm nhận được, một trải nghiệm có thể tham dự được. Trở nên tỉnh thức là luôn nhận thức được thực tại toàn phần trong sự khác biệt nội tại của nó — nhận thức được nó mà vẫn duy trì được điều kiện để sinh tồn như một loài vật, để suy nghĩ và cảm nhận như một con người, để sử dụng lý luận hệ thống bất cứ khi nào cần thiết. Mục tiêu của chúng ta là khám phá ra rằng chúng ta vẫn luôn ở nơi chúng ta nên ở. Thật không may, chúng ta đã biến nhiệm vụ đó trở nên vô cùng khó khăn cho chính mình.

Bình luận về bài viết này

Quote of the week

What should young people do with their lives today? Many things, obviously. But the most daring thing is to create stable communities in which the terrible disease of loneliness can be cured.

~ Kurt Vonnegut

Nếu thấy các bài viết hay và hữu ích, hãy mua cho Thuỳ một ly Marou