Tác giả: Larissa MacFarquhar
Thuỳ sưu tầm và biên dịch
Nghiên cứu gần đây đã liên kết hình ảnh trong tâm trí với các đặc điểm khác biệt như mức độ dễ bị tổn thương do sang chấn tâm lý và xu hướng nuôi dưỡng lòng hận thù.
Khi Nick Watkins còn là một đứa trẻ, anh thường dán những bài báo về thám hiểm không gian vào sổ lưu niệm và vẽ các sơ đồ chú thích về tên lửa. Anh biết điều này vì nhiều năm sau, anh vẫn còn giữ những cuốn sổ đó, và coi chúng là bằng chứng cho thấy mình đã có một tuổi thơ hạnh phúc, dù anh chẳng nhớ gì về việc mình đã làm ra chúng.
Vào mùa hè năm 1969, khi anh lên bảy, cha anh đã đánh thức anh dậy để xem cuộc đổ bộ lên mặt trăng; lúc đó là nửa đêm ở nơi họ sống, gần Southampton, Anh Quốc. Anh cũng không nhớ chuyện này, nhưng anh được kể lại rằng nó đã xảy ra. Giáng sinh năm đó, anh và em trai được tặng những chiếc mũ bảo hiểm không gian giống hệt nhau. Anh biết rằng vào sáng Giáng sinh đó, những chiếc mũ bảo hiểm đã chờ sẵn trong bếp và khi tìm thấy chiếc của mình, anh đã cảm thấy vui sướng, nhưng đây không hẳn là một ký ức. Kiến thức đó đối với anh mang tính cá nhân hơn là một sự thật thông thường, nhưng anh không thể cảm nhận hay hình dung ra hình ảnh cậu bé trong căn bếp lúc đó như thế nào.
Lúc lên tám hay chín tuổi, anh đọc đi đọc lại cuốn tiểu thuyết “2001: A Space Odyssey” của Arthur C. Clarke. Ở đầu cuốn sách, người ngoài hành tinh cấy những hình ảnh về việc sử dụng công cụ vào tâm trí của những con vượn người. Gần cuối truyện, nhân vật chính, David Bowman, hồi tưởng lại những ký ức về cuộc đời mình:
Không chỉ thị giác, mà tất cả các ấn tượng giác quan, và tất cả những cảm xúc mà anh đã cảm thấy vào thời điểm đó, đang ùa về ngày càng nhanh chóng. Cuộc đời anh như một cuộn băng đang phát lại với tốc độ ngày càng tăng… Những gương mặt anh từng yêu thương, và tưởng chừng đã mất đi không thể nào nhớ lại, đang mỉm cười với anh.
Đối với Nick, những sự kiện này — những hình ảnh trong tâm trí vượn người, việc David Bowman hồi tưởng cuộc đời mình — thật ly kỳ và siêu thực, không có chút liên hệ nào với thực tại, chỉ được tạo ra thông qua sự can thiệp của người ngoài hành tinh trong những thế giới viễn tưởng xa xôi.
Anh trở thành một nhà vật lý. Anh bị thu hút bởi vật lý thống kê và cơ học lượng tử, những khái niệm của nó được mô tả tốt nhất bằng các phương trình. Sự trừu tượng của những ý tưởng này phù hợp với anh.
Một buổi sáng năm 1997, khi đã ba mươi lăm tuổi, anh đang vừa ăn sáng vừa đọc báo. Anh đọc một bài viết của Michael Bywater, viết rằng thời gian là một ảo ảnh, bởi vì bạn có thể quay ngược thời gian và sống lại một thời điểm bất kỳ trong quá khứ: “Bạn chọn một ký ức, tập trung vào nó, để tâm trí trở nên trống rỗng và chờ đợi.” Bywater mô tả những ký ức cụ thể của chính mình, không chỉ là hình ảnh mà còn cả âm thanh và cảm giác — “Sức nặng khi những cô gái tựa vào bạn lúc hai người bước đi cạnh nhau.”
Vì một lý do nào đó, những câu văn này đã đột nhiên tiết lộ cho Nick điều mà suốt cả cuộc đời anh chưa từng nhận ra: rằng việc hình dung ra những hình ảnh trong tâm trí và sử dụng chúng để sống lại quá khứ là điều hoàn toàn khả thi.
Đây là một thông tin gây sửng sốt. Tất nhiên, anh biết mọi người hay nói về việc “hình dung” (picturing) hay “tưởng tượng” (visualizing), nhưng anh luôn cho rằng đó chỉ là một cách nói ẩn dụ cho việc “suy nghĩ”. Giờ đây, có vẻ như theo một nghĩa khó hiểu nào đó, những từ này thực sự mang nghĩa đen đối với mọi người. Và rồi còn có ý tưởng sử dụng những hình ảnh trong đầu để hồi tưởng lại một ký ức. Đó là một điều đáng kinh ngạc. Liệu có khả năng đây là điều mà những người khác ngoài Bywater cũng có thể làm được? Bywater đã viết về nó một cách khá thản nhiên, như thể ông coi đó là điều hiển nhiên. Nick đã hỏi một số người quen, và tất cả họ dường như đều có thể làm được điều đó.
Anh tự hỏi liệu có điều gì đó không ổn với mình — một loại chứng mất trí nhớ nào đó chăng? Trước đây anh chưa bao giờ có lý do để lo lắng về trí nhớ của mình. Anh có bằng Tiến sĩ vật lý; rõ ràng trí não anh đang hoạt động khá tốt. Anh biết những thông tin thường nhật về cuộc đời mình — cha mẹ là ai, những nơi anh từng sống khi còn nhỏ, những sự kiện quan trọng đã xảy ra. Anh chưa bao giờ nghĩ rằng ký ức lại có thể chứa nhiều thông tin hơn như thế.
Trong nhiều năm ròng, Nick đã một mình tìm kiếm thông tin rời rạc về hình ảnh tâm trí. Lúc đầu, anh vẫn chưa biết rằng việc mình không thể hình dung ra hình ảnh trong đầu — đặc điểm kỳ lạ này của tâm trí vốn dường như không đáng kể đến mức anh thậm chí không nhận ra nó trong suốt ba mươi lăm năm — lại trở thành một nguồn mạch cốt lõi định nghĩa nên con người anh.
Vào năm 2015, tình trạng như của anh được đặt tên khoa học là aphantasia (tạm dịch: mù tâm tưởng), và hàng chục nghìn người cũng đã rất sốc khi biết mình mắc chứng này giống như Nick. Một loạt các nghiên cứu trong thập kỷ tiếp theo đã khám phá ra mối liên hệ giữa hình ảnh tâm trí và một loạt các đặc điểm và khả năng của con người: khuynh hướng thù dai; chứng tự kỷ; sự nhạy cảm với sang chấn tâm lý; khả năng nhận thức về cảm xúc; cách sáng tạo nghệ thuật và nghe nhạc; và ký ức về cuộc đời của chính mình.
Nhưng tất cả những điều đó đều ở tương lai. Năm 1997, dù có hỏi han bao nhiêu người quen đi chăng nữa, Nick vẫn không tìm thấy ai giống mình. Anh nghĩ mình không thể là người duy nhất thiếu khả năng hình dung này. Chắc chắn khả năng anh là trường hợp duy nhất là cực kỳ thấp. Nhưng cho đến khi gặp được một ai đó khác, anh phải thừa nhận rằng đó là một khả năng có thể xảy ra.
Anh lên mạng và bắt đầu tìm kiếm. Ban đầu, anh chỉ tìm thấy các công trình từ thế kỷ 19. Thứ hữu ích đầu tiên anh bắt gặp là cuốn sách “Principles of Psychology” (Nguyên lý Tâm lý học) của William James. James đã đề cập đến những quan sát được Gustav Fechner, một nhà khoa học và triết gia người Đức, ghi lại vào năm 1860. Fechner đã tự quan sát “những hình ảnh ký ức thị giác” của chính mình và đánh giá chúng là yếu kém và thiếu sót:
Dù đã rất cố gắng, tôi không thể hình dung ra màu sắc trong các ký ức hình ảnh về các vật thể có màu… Những giấc mơ của tôi cũng không có màu sắc. Trên thực tế, mọi trải nghiệm của tôi trong giấc mơ dường như diễn ra trong bối cảnh hoàng hôn hoặc đêm tối. Tôi không thể giữ một hình ảnh ổn định trong tâm trí dù chỉ trong một thời gian ngắn. Để quan sát hình ảnh đó lâu hơn, tôi phải liên tục hình dung đi hình dung lại nó nhiều lần. Điều khiến tôi bất ngờ… là việc hình dung ra các hình ảnh ký ức khi mở mắt dễ dàng hơn khi nhắm mắt.
Tuy nhiên, Fechner đã không theo đuổi chủ đề này, và nó nằm im cho đến năm 1880, khi được Francis Galton — một nhà khoa học người Anh, người sau này trở nên tai tiếng với tư cách là cha đẻ của thuyết ưu sinh — tiếp tục nghiên cứu. Galton cho rằng các nhà khoa học sẽ có thể đưa ra những câu trả lời chính xác nên ông đã viết thư cho vài người trong số họ và hỏi:
Hãy nghĩ về một vật thể xác định — giả sử đó là bàn ăn sáng của bạn sáng nay — và xem xét kỹ bức tranh hiện ra trong tâm trí bạn… Hình ảnh đó mờ nhạt hay khá rõ ràng?… Đồ sứ màu gì? Hình ảnh bánh mì nướng, vỏ bánh, mù tạt, thịt, rau mùi, hay bất cứ thứ gì khác có trên bàn, có rõ rệt và tự nhiên không?
Những phản hồi ông nhận được hoàn toàn không như mong đợi.
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy rằng đại đa số những nhà khoa học mà tôi tiếp cận ban đầu đều phản đối, cho rằng họ không hề biết đến hình ảnh tâm trí, và họ coi tôi là kẻ viển vông và hão huyền khi giả định rằng cụm từ “hình ảnh trong tâm trí” thực sự diễn tả đúng ý nghĩa mà tôi tin rằng mọi người vẫn thường hiểu… Họ bị một khiếm khuyết tinh thần mà họ không hề hay biết, và đương nhiên cho rằng những người có khả năng đó là đang thêu dệt.
Tìm thấy nghiên cứu này của Galton đã mang lại sự nhẹ nhõm cho Nick. Ít nhất giờ đây anh biết rằng có những người khác thiếu khả năng hình dung ra những hình ảnh trong tâm trí nhưng vẫn sống một cuộc đời bình thường, vì vậy đó không phải là một căn bệnh, hay triệu chứng của một khối u não. Galton sau đó đã quan sát thấy rằng phụ nữ và trẻ em dường như có khả năng hình dung sống động hơn so với các nhà khoa học. Ông kết luận: “Các nhà khoa học nói chung có khả năng hình dung bằng hình ảnh yếu kém.” Nick thấy điều này thật thú vị. Có lẽ sự thiếu hụt khả năng hình dung ra hình ảnh trong tâm trí của chính anh bằng cách nào đó đã giúp anh nâng cao khả năng khoa học. Anh biết rằng, đối với số một số nhà toán học, họ thường có xu hướng coi thường tầm quan trọng của hình ảnh — một quan niệm cho rằng, ngay cả trong hình học, các bản vẽ cũng gây xao nhãng khỏi một chứng minh phân tích thuần túy.
Nhưng anh cũng biết rằng có vô số huyền thoại trong lịch sử khoa học về việc các giấc mơ dẫn đến khám phá. Einstein đã hình dung mình đang di chuyển cùng một chùm tia sáng, và điều này dẫn đến khái niệm về thuyết tương đối. Trường hợp nổi tiếng nhất mà Nick biết là nhà hóa học người Đức August Kekulé, người đã mơ thấy cấu trúc của vòng benzen:
Những hàng dài… tất cả đều xoắn lại và vặn vẹo như chuyển động của rắn… Một trong những con rắn đã ngoạm lấy đuôi của chính nó, và hình dáng đó xoay tròn một cách đầy chế nhạo trước mắt tôi. Như một tia chớp, tôi bừng tỉnh; và… dành phần còn lại của đêm để nghiên cứu các hệ quả của giả thuyết đó.
Có lần, Nick tình cờ đọc được một bài báo từ năm 1909 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân biệt giữa hình ảnh tưởng tượng tự nguyện (khả năng gợi lại hình ảnh trong tâm trí theo ý muốn) và hình ảnh tưởng tượng không tự nguyện. Đôi khi, những người không thể gợi lại hình ảnh một cách chủ động lại trải nghiệm chúng một cách không tự nguyện – thường là trong những cơn đau nửa đầu, hoặc sốt cao gây ảo giác, hoặc trong giấc mơ, hoặc trạng thái nửa tỉnh nửa mê ngay trước khi ngủ. Điều này thu hút sự chú ý của anh vì anh gần như chắc chắn rằng mình đã thấy những hình ảnh trong mơ, mặc dù anh không thể chắc chắn, vì không còn gì sót lại sau khi anh tỉnh dậy. Nếu anh đúng, và anh thực sự thấy hình ảnh khi ngủ, thì thật kỳ lạ khi anh không thể triệu hồi chúng vào những lúc khác. Có phải anh đang kìm nén chúng không?
Khi tìm kiếm các nghiên cứu khoa học về hình ảnh tưởng tượng vào giữa thế kỷ 20, anh tìm thấy rất ít. Có vẻ như việc nghiên cứu hình ảnh tưởng tượng phần lớn đã biến mất khỏi nghiên cứu khoa học từ những năm 1920 đến 1950, một phần do sự thống trị của thuyết hành vi (behaviorism) ở Mỹ, vốn lên án việc nghiên cứu các trạng thái tâm lý bên trong là không khoa học. J. B. Watson, người sáng lập thuyết hành vi, đã bác bỏ hoàn toàn sự tồn tại của hình ảnh tâm trí:
Một người muốn nói gì khi nhắm mắt hoặc bịt tai lại (theo nghĩa bóng) và nói: “Tôi thấy ngôi nhà nơi tôi sinh ra, chiếc giường thấp trong phòng mẹ tôi nơi tôi từng ngủ — tôi thậm chí có thể thấy mẹ khi bà bước vào đắp chăn cho tôi và tôi thậm chí có thể nghe thấy giọng bà khi bà khẽ nói chúc ngủ ngon”? Tất nhiên là cảm động, nhưng hoàn toàn là nhảm nhí. Chúng ta chỉ đang kịch tính hóa thôi. Nhà tâm lý học hành vi không tìm thấy bằng chứng nào về hình ảnh tưởng tượng trong chuyện này cả.
Sau này, các nhà nghiên cứu sẽ tranh luận xem liệu có phải Watson trở thành nhà tâm lý học hành vi vì ông không có hình ảnh tâm trí, hay là trê thực tế thì ông có khả năng hình dùng hình ảnh trong tâm trí mạnh mẽ nhưng phủ nhận nó vì “mù quáng về mặt tư tưởng”.
Vào những năm 1970, Nick phát hiện ra, một vài nhà tâm lý học, được giải phóng khỏi nhưgx giáo điều của thuyết hành vi giữa thế kỷ, đã bắt đầu khám phá lại về hình ảnh tưởng tượng. Chẳng hạn, một nhà tâm lý học người Anh tên là David Marks đã phát triển “Bảng câu hỏi về sự sống động của hình ảnh tưởng tượng” (Vividness of Visual Imagery Questionnaire), nhằm đo lường khả năng của một người trong việc hình dung không chỉ một vật thể tĩnh mà còn cả chuyển động (dáng đi đặc trưng của một người quen), sự thay đổi (bầu trời chuyển sắc lúc bình minh), và mức độ chi tiết (cửa sổ của một cửa hàng bạn thường lui tới). Nhưng các nhà tâm lý học những năm 70 chỉ quan tâm đến những người có khả năng hình dung bình thường. Còn khi Nick tìm kiếm các nghiên cứu về những người giống mình thì anh không thấy gì cả.
Khoảng đầu những năm 2000, Jim Campbell, một kỹ sư trắc địa người Scotland khoảng sáu mươi lăm tuổi, đã đặt lịch hẹn với một nhà thần kinh học tại Đại học Edinburgh tên là Adam Zeman. Jim gần vừa trải qua một cuộc phẫu thuật tim, và sau đó ông nhận thấy mình không còn có thể hình dung ra bất cứ thứ gì trong đầu nữa. Trước khi phẫu thuật, ông thường dỗ mình ngủ bằng cách hình dung về con cái và các cháu; giờ đây ông không thể nhìn thấy gì cả.
Zeman có một phòng khám thần kinh tổng quát — chuyên về bệnh Parkinson, đa xơ cứng, sa sút trí tuệ — nhưng ông cũng quan tâm đến ý thức kể từ khi còn là sinh viên. Ông suy đoán rằng một trong những điều làm con người khác biệt với các loài linh trưởng khác là khả năng tự phóng chiếu bản thân vào quá khứ hoặc tương lai, hoặc vào những thế giới hư cấu thuần tuý. Vì vậy, ông đã rất thích thú khi gặp ở Jim một hội chứng mà ông chưa từng nghe nói đến trước đây, vốn dường như là sự cắt bỏ đúng cái khả năng làm nên định nghĩa giống loài này. Ấy vậy mà Jim rõ ràng là một con người rất bình thường — hóm hỉnh, kín đáo, thực tế. Các bài kiểm tra thần kinh, tâm thần và nhận thức của ông đều bình thường. Nếu Jim không mô tả tình trạng của mình, Zeman sẽ không biết có điều gì bất thường ở ông.
Ngay cả những câu hỏi được thiết kế để khơi gợi hình ảnh — Cỏ hay lá thông màu đậm hơn? Sóc có đuôi dài hay ngắn? — Jim đều trả lời mà không do dự. Khi Zeman hỏi làm thế nào ông có thể trả lời mà không cần hình dung ra những thứ đó, ông nói rằng mình chỉ “biết” vậy thôi. Zeman tìm kiếm các bài báo khoa học gần đây có thể làm sáng tỏ tình trạng kỳ lạ này nhưng không tìm thấy gì hữu ích. Trường hợp này làm ông nhớ đến “thị giác mù” (blindsight) — một hiện tượng hiếm gặp trong đó một số người dù không thể nhìn thấy gì nhưng vẫn hành xử như thể họ nhìn thấy, họ có thể nhặt đồ vật bị rơi và tránh chướng ngại vật trên đường. Mắt và não của họ có thể tiếp nhận thông tin thị giác, nhưng thông tin đó không được đưa lên vùng ý thức.
Zeman cảm thấy Jim không phải là kiểu người sẽ bịa đặt ra một chuyện như thế này, nhưng ông muốn có bằng rằng chứng cho thấy rằng não bộ của Jim đang hoạt động theo một cách bất thường. Ông đã tìm một nhóm đối chứng gồm những người đàn ông cùng độ tuổi và cho họ cùng Jim thực hiện các bài kiểm tra nhận thức trong máy quét MRI. Tại đây, ông đã tìm thấy các mối tương quan thần kinh mà ông đang tìm kiếm. Mặc dù não bộ của Jim phản ứng bình thường với các bài kiểm tra nhận dạng (được cho xem hình ảnh của những gương mặt nổi tiếng), nhưng khi ông được yêu cầu hình dung một hình ảnh trong đầu, máy quét chỉ cho thấy hoạt động não rất yếu, so với hoạt động não ở nhóm đối chứng. Thay vào đó, xuất hiện hoạt động ở các vùng của thùy trán, vốn thường được kích hoạt trong các tình huống cần nỗ lực nhận thức hoặc mâu thuẫn. Jim đã cố gắng (để hình dung), nhưng thất bại.
Vào năm 2010, Zeman cùng một số đồng nghiệp đã công bố những phát hiện này trên tạp chí Neuropsychologia, gọi hội chứng này là “mù trí tưởng tượng” (blind imagination). Nhà báo khoa học Carl Zimmer đã chú ý đến nghiên cứu này và viết một bài về nó trên tạp chí Discover. Trong những năm sau đó, khoảng vài chục người đã liên lạc với Zeman để nói với ông rằng họ cũng mắc phải tình trạng tương tự, nhưng là từ khi sinh ra. Zeman đã gửi bảng câu hỏi cho họ và tổng hợp câu trả lời. Lúc này, ông nhận thấy rằng việc thiếu hình ảnh tâm trí có đủ cơ sở để trở thành một hội chứng và nên có một cái tên. Sau khi tham khảo ý kiến của một người bạn là nhà nghiên cứu cổ điển, ông quyết định chọn từ “aphantasia”, với phantasia được Aristotle định nghĩa là khả năng gợi ra một hình ảnh trong trí tưởng tượng. Năm 2015, Zeman đồng tác giả một bài báo trên tờ Cortex mô tả tình trạng này xuất hiện ở 21 đối tượng: “Cuộc sống không có hình ảnh — Chứng mù tâm tưởng bẩm sinh.”
Một bài báo về nghiên cứu thứ hai của Zeman đã xuất hiện trên tờ New York Times, và sau đó, email đổ về dồn dập. Khoảng 17.000 người đã liên lạc với ông. Hầu hết là những người mù tâm tưởng bẩm sinh, và phần lớn không chỉ thiếu hình ảnh thị giác; họ cũng không thể hình dung âm thanh trong tâm trí, hay xúc giác, hay cảm giác vận động. Nhiều người gặp khó khăn trong việc nhận diện khuôn mặt. Nhiều người nói rằng họ cũng có một thành viên trong gia đình bị mù tâm tưởng. Hầu hết nói rằng họ thấy hình ảnh trong mơ. Zeman đã nhờ đến sự giúp đỡ của các đồng nghiệp làm việc cùng mình, và họ cùng nhau cố gắng trả lời mọi bức thư.
Một số người viết rằng trước đây họ đã từng có thể hình dung nhưng sau đó khả năng này mất đi. Khoảng một nửa trong số họ mất đi khả năng này do chấn thương vật lý — đột quỵ, viêm màng não, chấn thương đầu, ngạt thở. Nửa còn lại cho rằng sự mất mát của họ là do nguyên nhân tâm thần — hội chứng giải thể nhân cách, trầm cảm. Một số người nói với ông rằng họ nghĩ mình đã kìm nén khả năng hình dung vì những ký ức đau buồn khiến hình ảnh trở nên không thể chịu đựng được. Zeman biết được rằng đã có một trường hợp vào năm 1883, được nhà thần kinh học người Pháp Jean-Martin Charcot mô tả, trong đó một người đàn ông, ông X, đã mất khả năng hình dung; đồng thời, thế giới đột nhiên trở nên xa lạ với ông, và ông trở nên vô cùng lo âu. “Tôi nhận thấy một sự thay đổi mạnh mẽ trong cuộc sống của mình, phản ánh rõ ràng một sự thay đổi đáng kể trong tính cách của tôi,” Monsieur X viết cho Charcot. “Trước đây, tôi từng là người giàu cảm xúc, nhiệt tình với trí tưởng tượng phong phú; ngày nay tôi bình tĩnh, lạnh lùng và tôi đã mất đi trí tưởng tượng của mình.” Một nhà thần kinh học người Pháp khác ở thế kỷ 19, Jules Cotard, đã mô tả một bệnh nhân bị mất khả năng hình dung trong tâm trí, kèm theo hiện tượng được gọi là ảo tưởng Cotard, hay hội chứng xác sống biết đi – niềm tin rằng anh ta đã chết.
Zeman cũng nhận được thư từ những người dường như mắc chứng ngược lại với chứng aphantasia: họ nói với ông rằng hình ảnh trong tâm trí họ rất sống động và không thể nào quên được. Rõ ràng là có một phổ của hình ảnh trong tâm trí, với aphantasia ở một đầu và hình ảnh cực kỳ sống động ở đầu kia, và trải nghiệm của hầu hết mọi người nằm ở đâu đó ở giữa. Zeman cho rằng thái cực sống động cũng cần một cái tên; ông gọi nó là hyperphantasia (siêu tưởng tượng). Có vẻ như có khoảng 2 hoặc 3 phần trăm dân số bị mù tâm tưởng và số người bị siêu tưởng tượng thì nhiều hơn một chút.
Ông nhận ra rằng nhiều người trong số những người liên lạc với ông đã phát hiện ra tình trạng của họ rất gần đây, sau khi đọc về nó hoặc nghe mô tả trên đài phát thanh. Suốt cuộc đời, họ đã nghe mọi người nói về việc hình dung, tưởng tượng, đếm cừu, hình dung những bãi biển, và nhìn thấy trong tâm trí, và cứ ngỡ rằng tất cả những thành ngữ đó chỉ là ẩn dụ hay lối nói cường điệu hoa mỹ. Thật đáng kinh ngạc khi con người có thể hiểu lầm nhau sâu sắc đến thế, và cho rằng người khác không có ý nói những gì họ đang nói – làm thế nào mà trí óc có thể gán cho những điều vô nghĩa một ý nghĩa nào đó.
Một số người nói rằng họ có một cảm giác rất trêu ngươi rằng các hình ảnh đang ở đâu đó trong tâm trí họ, chỉ là ngoài tầm với, giống như một từ ngữ đang muốn nói ra nhưng đột nhiên không nhớ ra nổi đó là từ gì. Điều này nghe có vẻ đúng với Zeman — các hình ảnh phải được lưu trữ theo một cách nào đó, vì những người mù tâm tưởng vẫn có khả năng nhận diện mọi thứ. Thực tế, dường như hầu hết những người mù tâm tưởng không bị cản trở trong các hoạt động hàng ngày. Họ có trí nhớ tốt về các sự kiện và nhiệm vụ. Nhưng nhiều người trong số họ nói rằng họ nhớ rất ít về cuộc đời của chính mình.
Trong số các email Zeman nhận được, có một vài bức từ những hoạ sĩ chuyên nghiệp bị mù tâm tưởng, khiến ông vô cùng ngạc nhiên. Một trong số đó là Sheri Paisley, một họa sĩ ngoài bốn mươi sống ở Vancouver. Khi Sheri còn trẻ, khả năng hình dung của cô sống động đến mức đôi khi cô gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa hình ảnh tưởng tượng với thực tế. Cô vẽ những chân dung giống hệt người và động vật; chân dung thu hút cô vì cô quan tâm đến tâm lý học. Sau đó, khi cô hai mươi chín tuổi, cô bị đột quỵ và mất hoàn toàn khả năng hình dung.
Đối với cô, việc mất đi khả năng hình dung là một thảm họa. Cô cảm thấy như thể tâm trí mình là một thư viện đã bị thiêu rụi. Cô không còn cảm thấy mình là một con người nữa. Dần dần, khi hồi phục sau cơn đột quỵ, cô quay lại với hội họa, làm việc rất chậm. Cô chuyển từ sơn acrylic sang sơn dầu vì acrylic khô quá nhanh. Cô thấy nghệ thuật của mình đã thay đổi một cách rõ rệt. Cô không còn muốn vẽ theo lối tả thực nữa; cô vẽ những bức tranh trừu tượng trông giống như các thiên hà được nhìn qua kính thiên văn. Cô mất hứng thú với tâm lý học — cô muốn kết nối với những nền tảng của vũ trụ.
Nhiều năm sau, cô nhớ lại rằng, một đêm nọ tại nhà bố mẹ, khi còn đang học trường nghệ thuật, cô đã thức rất khuya để vẽ. Cô đột nhiên cảm thấy một sự hiện diện mạnh mẽ sau lưng mình, và ngay cả khi cô vẫn tiếp tục làm việc, cô cảm thấy sự hiện diện đó hỏi cô: Ngươi muốn gì? Trong suy nghĩ, cô trả lời: Con muốn trở thành một họa sĩ vĩ đại, và con sẽ làm bất cứ điều gì phải làm, ngoại trừ việc dùng thuốc. Sau này, cô nghĩ: Ồ, đó chính là những gì đã xảy ra. Cuộc sống của mình rất khó khăn, nhưng những bức tranh của mình thì tốt hơn rất nhiều.
Sheri đã là một nghệ sĩ trước khi cô mất đi khả năng hình dung, nhưng có những người khác đã bị mù tâm tưởng từ khi họ ra đời. Isabel Nolan, một hoạ sĩ nổi tiếng người Ireland, khi đang đọc về công trình của Zeman trên tờ New Scientist ở tuổi ngoài bốn mươi đã khám phá ra rằng những người khác có thể hình dung ra hình ảnh trong đầu họ:
Cảm giác lúc đó kiểu như – chết tiệt thật đấy! Đó là cách duy nhất tôi có thể diễn tả cảm giác của mình. Kinh hoàng và bị lừa dối. Tôi vẫn còn cảm thấy hơi bị lừa dối.
Cô tự hỏi liệu có phải trước giờ mình vẫn luôn như thế này không. Khi cô còn nhỏ, thỉnh thoảng mẹ cô đi công tác, và trong khi bà đi vắng, Isabel ở lại với những người anh em họ sống gần đó. Cô nhớ có một đêm cô nằm trên giường tại nhà họ hàng, nghĩ rằng: Nếu mẹ chết thì sao? Mình không thể nhớ mẹ trông như thế nào.” Cô là một đứa trẻ hay lo lắng, sợ hãi nhiều thứ, nhưng ý nghĩ này đặc biệt ám ảnh cô suốt nhiều năm. Giờ đây, cô tự hỏi làm sao mình lại có thể buồn bã như vậy trước ý nghĩ rằng mình không thể hình dung ra mẹ, trừ khi cô đã có một khái niệm nào đó, một ký ức mơ hồ nào đó, rằng một điều như vậy là khả thi.
Nỗi sợ hãi về việc mọi thứ sẽ biến mất vẫn không hề nguôi ngoai. Trên thực tế, nó đã mở rộng, từ mẹ cô sang mọi thứ. Cô đã sống ở Dublin gần như cả đời, mặc dù sự nghiệp của cô có lẽ sẽ tốt hơn nếu cô chuyển đến London. Hóa ra, điều đó không cả trở cô — cô sẽ đại diện cho Ireland tại Venice Biennale năm 2026 — nhưng khi còn trẻ, cô đã tự hỏi liệu mình có đang phạm sai lầm hay không. Cô nghĩ rằng có lẽ cô đã ở lại vì việc có những vật kỷ niệm của quá khứ xung quanh giúp cô nhớ về nó. Trong một thời gian dài, cô đã cảm thấy mọi thứ xung quanh mình đều phù du, bấp bênh, không đáng tin cậy:
Năm 2020, tôi biên soạn một cuốn sách, tổng hợp lại khoảng chín năm làm việc và viết lách, và có rất nhiều bài viết ám chỉ đến việc tôi hầu như không thể nắm bắt được thế giới và mọi thứ trơn trượt như thế nào. Tôi nhận ra rằng việc không thể hình dung lại mọi thứ thực sự đang đè nặng lên tâm trí tôi, và mối liên hệ của tôi với thế giới xã hội dường như hết sức lỏng lẻo. Tôi đã viết rất nhiều về việc xúc giác quan trọng với mình như thế nào, và việc sáng tạo nghệ thuật giống như việc thả những chiếc mỏ neo nhỏ nhắc nhở tôi rằng thế giới vẫn tồn tại.
Chắc chắn cảm giác này có liên quan đến việc không thể hình dung ra bất cứ thứ gì trong đầu khi cô không nhìn vào nó.
“Thế giới thực sự biến mất hoàn toàn khi bạn nhắm mắt lại.”
Tại một hội nghị, cô nghe các hoạ sĩ với khả năng hình dung những hình ảnh sống động trong đầu nói rằng họ thường thất vọng về tác phẩm của mình vì nó không bao giờ sánh kịp với hình ảnh rực rỡ trong đầu họ; cô cảm thấy tội nghiệp cho họ. Khi cô đang làm một cái gì đó, cô không bao giờ biết kết quả cuối cùng sẽ như thế nào. Đôi khi cô bắt đầu với một ý tưởng, như vũ trụ; cô thích nhìn vào hình ảnh của không gian sâu và vẽ những bức tranh trừu tượng giống chúng. Cô nghĩ rất nhiều về trải nghiệm chủ quan, nhưng không phải trải nghiệm của riêng cô — mà là cảm giác trở thành bất kỳ con người nào, lang thang qua thế giới. Cô không cảm thấy tác phẩm của mình là sự mở rộng hay biểu đạt của bản thân, vì vậy cô không bận tâm đến những lời chỉ trích, hay việc không được thấu hiểu:
Tôi không nghĩ mình có một ý thức mạnh mẽ về bản thân, và đó không phải là thứ tôi cực kỳ quan tâm.
Có phải điều này là do chứng mù tâm tưởng của cô? Nếu tâm trí cô ấy tràn ngập hình ảnh, liệu cô ấy có cảm thấy bản thân mình đầy đủ hơn, mạnh mẽ hơn không? Khi mọi người biết mình bị mù tâm tưởng, họ có xu hướng tự hỏi liệu khía cạnh này hay khía cạnh kia của bản thân có phải là do sự thiếu hụt khả năng hình dung hay không; đôi khi nó chẳng liên quan gì, nhưng trong trường hợp này thì có — vài nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người có khả năng hình dung ra những hình ảnh sống động trong đầu có xu hướng hướng nội hơn và thích đắm mình trong dòng suy nghĩ của chính họ.
Có người đã kể cho Isabel về một nhà triết học đạo đức người Anh, Derek Parfit, người không có khả năng hình dung. Ông có ít ký ức và ít mối liên hệ với quá khứ của mình, mặc dù ông cảm nhận được những cảm xúc mạnh mẽ về con người và những ý tưởng ở hiện tại. Parfit tin rằng bản ngã không phải là một thực thể độc nhất vô nhị, riêng biệt mà là một tập hợp các ký ức và suy nghĩ luôn thay đổi, giao thoa với ký ức và suy nghĩ của người khác. Cuối cùng, ông nghĩ, bản ngã không quan trọng. Điều quan trọng là những mệnh lệnh đạo đức thúc đẩy mọi người, hoặc nên thúc đẩy việc ngăn ngừa sự đau khổ, thúc đẩy phúc lợi tương lai của nhân loại, thúc đẩy việc tìm kiếm sự thật.
Giống như Parfit, Isabel nhớ rất ít về cuộc đời mình. Cô giữ những hộp kỷ vật chứa các cuống vé, ảnh chụp, băng video, đồ lưu niệm… nhưng trừ khi cô nhìn vào những thứ này, hoặc được một người bạn nhắc nhở, cô không nhớ hầu hết những nơi cô đã đến hay những việc cô đã làm. Cô cho rằng đây có thể là một vấn đề trong một mối quan hệ, nếu bạn không nhớ những gì các bạn đã làm cùng nhau thì người kia sẽ bực bội rồi cáo buộc bạn là vô tâm, dù may mắn là cô chưa bao giờ ở bên một người như thế. Khi cô đi chơi với những người bạn đầy những câu chuyện để kể, cô lo rằng mình không đủ thú vị; thông thường, cô sẽ gợi chuyện cho họ nói để cô không phải nói:
Đối với một số người bạn, tôi không thực sự cảm nhận được là mình hiểu họ đến mức nào. Tôi kiểu như đã quên mất rồi. Họ sẽ nói kiểu như: Ồ, đúng rồi, bạn có nhớ chúng ta đã đi xem kịch đêm đó không? Và đôi khi tôi chỉ giả vờ, tôi sẽ kiểu: Ồ, đúng rồi, đúng rồi. Tôi nghĩ khi các mối quan hệ của tôi mang tính liên tục, nó sẽ dễ dàng hơn nhiều. Bạn nhớ nhiều hơn vì bạn liên tục ôn lại những ký ức về những thứ các bạn đã làm cùng nhau — kiểu như: cái lần chúng ta đi Cologne, uống say bét nhè và làm mất máy ảnh, vân vân.
Thật tuyệt nếu nhớ được tất cả những câu chuyện hài hước mà mọi người kể, nhưng cuối cùng cô không quá bận tâm. Cô có thể chỉ cần ngồi đó và tận hưởng niềm vui khi được ở bên những người bạn cũ. Cảm xúc mới là quan trọng; cô không cần biết chuyện gì đã xảy ra nhiều năm trước. Theo một cách nào đó, điều này khiến mọi thứ dễ dàng hơn — cô hầu như không nhớ các cuộc cãi vã hay những cảm xúc tiêu cực. Cô hy vọng rằng những khoảnh khắc quan trọng trong cuộc đời, dù tốt hay xấu, đã để lại dấu ấn nào đó trong cô, nhưng không thể nào biết được:
Tôi cảm thấy quá khứ của mình giống như một ảo ảnh. Tôi biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng cảm giác không giống như — tôi không biết nữa. Thật khó để biết việc có những trải nghiệm có ý nghĩa gì, bởi vì đôi khi những trải nghiệm mà tôi có thể rời bỏ tôi nhanh chóng… Người ta có thể cảm thấy hơi mất kết nối với chính quá khứ của mình.
Clare Dudeney là một nghệ sĩ làm việc ở phía đông nam London, trong một khu mê cung của những nhà máy cũ bên bờ sông Thames. Sát một bức tường trong studio của cô là một chiếc khung dệt bằng gỗ, phía trên là những cuộn chỉ bông lớn với đủ màu sắc cầu vồng được móc vào các chốt. Cô thực hiện các tác phẩm trên nhiều loại chất liệu khác nhau, tất cả đều rực rỡ sắc màu: những mảnh vải được nhuộm màu xanh trứng chim robin, màu xanh hạt dẻ cười, hay màu vàng chanh được dán vào các bức tranh ghép. Một số bức dài đến nỗi bạn không thể nhìn hết cùng một lúc, được treo gần những cánh cửa mở, chúng khẽ lay động theo gió. Cô thực hiện những bức bích họa từ gạch gốm sơn những hình thù không đều, trông như bản đồ các quốc gia, với các tông màu hồng phấn, xanh cần tây, vàng và vàng lúa mì; những khối gỗ thô hình chữ nhật mà cô gọi là tranh khắc gỗ, với các sắc tố màu xanh mòng két, đỏ, xanh lam và xanh chanh thấm vào hoặc lấp đầy các kẽ hở và vết lõm trên bề mặt; những “con sâu” đất sét dài được đan kiểu giỏ và tráng men — mang màu xanh rừng rậm, vàng mù tạt, nâu hạt dẻ — trông như những tác phẩm macramé bằng gốm. Cô cũng khoác lên mình những bộ trang phục đầy sắc màu: những chiếc khăn quàng cổ dày và áo len sợi thô do cô tự đan, cùng những chiếc váy họa tiết hình học.
Khi trò chuyện với một người bạn của mình, một họa sĩ mắc chứng mù tâm tưởng và là một trong những đối tượng nghiên cứu của Zeman, Clare nhận ra mình hoàn toàn ngược lại — cô bị hyperphantasia (siêu tưởng tượng). Hình ảnh trong đầu cô sống động một cách phi thường. Luôn có quá nhiều thứ diễn ra trong đầu cô, đầu óc cô luôn xáo trộn và hỗn loạn, đến nỗi thật khó để tập trung vào những gì hoặc những ai thực sự ở trước mặt. Có quá nhiều bức tranh và những mảnh ký ức lóe lên, và những hình ảnh thoáng qua của những thứ cô tưởng là ký ức nhưng không chắc chắn, cùng những kịch bản thực tế lẫn tưởng tượng, những kế hoạch và suy đoán và quan niệm, một dòng chảy không ngừng của hình ảnh và ý tưởng liên tục tuôn trào trong tâm trí cô. Thật khó để đi vào giấc ngủ.
Có một lần, trong nỗ lực làm chậm dòng suy nghĩ hỗn loạn, cô đã thử thiền. Cô tham gia một khóa tu im lặng mười ngày, nhưng cô ghét nó — có quá nhiều quy tắc, phải dậy quá sớm — cô đã nổi loạn. Khi ngồi trong một căn phòng không có hình ảnh hay sự kích thích nào, lẽ ra là đang thiền, cô lại quyết định hồi tưởng lại phần một của phim Harry Potter trong đầu mình. Cô không thể nhớ lại toàn bộ hai tiếng của phim, nhưng chỉ riêng việc xem lại những gì cô nhớ được cũng đã kéo dài trong bốn mươi lăm phút. Sau đó cô cũng làm điều tương tự với bảy phần phim còn lại.
Cô cố gắng không để mình tiếp xúc với những hình ảnh xấu xí hay bạo lực vì cô biết chúng sẽ bám chặt trong tâm trí cô hàng năm trời. Nhưng ngay cả khi không có hình ảnh, nếu cô chỉ cần nghe kể về bạo lực, tâm trí cô sẽ tự động hình dung ra hình ảnh đó. Một lần, khi đọc về một người phải phẫu thuật mà không dùng thuốc mê hay thuốc tê, cô đã hình dung ra cảnh tượng đó một cách sống động đến mức ngất xỉu. (Năm 2012, hai nhà tâm lý học tại Harvard đã công bố một nghiên cứu về sự tương quan giữa hình ảnh thị giác và phán đoán đạo đức. Họ phát hiện ra rằng những người có khả năng hình dung yếu thường có xu hướng suy nghĩ trừu tượng hơn về các câu hỏi đạo đức và tin rằng mục đích tốt đẹp có thể được dùng để biện minh cho những hành vi gây hại. Nhưng đối với những người có khả năng hình dung mạnh, những hành vi gây hại — chẳng hạn như gây thương tích cho một người để cứu vài người khác — khiến họ hình dung ra những hình ảnh rùng rợn trong tâm trí, đến mức họ phản ứng đầy cảm xúc và bác bỏ chúng.)
Ngay cả những hình ảnh vui vẻ cũng có thể phản bội cô. Cô từng có một con mèo mà cô rất yêu; cô đã ly thân với chồng và sống một mình, vì vậy cô đã dành nhiều thời gian cho con mèo hơn bất kỳ sinh vật nào khác. Sau đó con mèo chết, và sau cái chết của nó, cô thấy nó ở khắp mọi nơi — trên ghế sofa, trên sàn nhà, trên giường, ở bất cứ nơi nào nó từng hiện diện khi còn sống. Cô thấy nó rõ ràng đến mức như thể nó thực sự đang ở đó trước mặt cô. Nỗi đau buồn của cô trở nên tồi tệ hơn nhiều bởi sự ám ảnh dai dẳng này đến mức cô bắt đầu cảm thấy như mình sẽ không thể vượt qua nổi.
Cha cô là một nhà vật lý và từng giữ chức phó giám đốc Cơ quan Khảo sát Nam Cực của Anh Quốc trong nhiều năm. Khi Clare còn nhỏ, ông đã hứa một ngày nào đó sẽ đưa cô đến Nam Cực, và cuối cùng, khi cô ngoài ba mươi tuổi, vào năm 2013, ông đã thực hiện lời hứa đó. Ở đó, trên chiếc thuyền, cô thấy mình đang nhìn vào một cảnh quan hoàn toàn xa lạ đến mức não của cô phải vật lộn rất vất vả để hiểu nó. Đôi khi, cô cảm thấy những gì trước mắt mình không phải là một cảnh quan, mà giống như một bề mặt trừu tượng, không có tham chiếu hay ý nghĩa. Nơi đó rộng lớn, và không có người. Tuyết và băng tạo thành những hoa văn kỳ lạ trên mặt biển. Khi họ di chuyển, địa hình liên tục thay đổi, vì vậy cảm giác về sự mới mẻ xa lạ của cô vẫn tồn tại. Cảm giác như lần đầu tiên cô được nhìn trực tiếp vào chính thế giới chứ không phải thông qua bức màn ký ức thị giác hỗn độn, che mờ. Việc chỉ nhìn thôi đã tốn quá nhiều sức lực đến mức nó chiếm trọn tâm trí cô, khiến cô không nghĩ về bất cứ điều gì khác, cô chỉ ở đó. Vào thời điểm đó, cô đang làm tư vấn về các vấn đề khí hậu và bền vững, nhưng sau chuyến đi đó, cô quyết định trở thành một nghệ sĩ.
Thông thường, các ý tưởng cho tác phẩm nghệ thuật của cô không đến từ bất cứ thứ gì bên ngoài mà từ những hình ảnh trong đầu cô. Có một giai đoạn, cô đã thực hiện các bức tranh dựa trên những giấc mơ của mình. Cô để một cuốn nhật ký và một cây bút cạnh giường để có thể mô tả những gì mình đã mơ ngay khi tỉnh dậy. Cô càng viết ra những giấc mơ của mình, cô càng nhớ chúng rõ hơn; đôi khi cô có thể nhớ được mười giấc mơ trong một đêm duy nhất. Cuối cùng, quá trình này bắt đầu tự lồng vào nhau — khi cô vẫn còn đang ngủ, cô bắt đầu mơ thấy mình đang ghi chép về giấc mơ, và lập kế hoạch làm thế nào để vẽ những gì mình đang thấy.
Khi cô nghĩ về việc làm một tác phẩm mới, cô thường thực hiện nó trong tâm trí trước. Là một người siêu tưởng tượng không chỉ có nghĩa là hình ảnh mà bạn tưởng tượng ra trong đầu rực rỡ và sắc nét; nó còn có nghĩa là bạn có thể thao túng các hình ảnh của mình theo ý muốn, phóng to và thu nhỏ, cắt và dán, lật và đối xứng, tạo ra các bức tranh từ con số không, lắp ráp và tháo rời các vật thể phức tạp. Ngay cả khi cô cố gắng gợi lại màu sắc của một cảnh quan vào một thời điểm nhất định trong ngày, cô cũng thực hiện nó không phải từ đời thực mà từ ký ức.
Cô không biết điều này phổ biến như thế nào trong giới nghệ sĩ, nhưng cô khá chắc chắn là có một số người đã làm việc dựa trên trí tưởng tượng của họ nhiều hơn là từ đời thực. Chẳng hạn, J. M. W. Turner đã thực hiện các ký họa thô ngoài trời, nhưng biển cả, bầu trời và ánh sáng trong các bức tranh của ông đều đến từ trong đầu ông. Có một họa sĩ chân dung người Anh làm việc vào cuối thế kỷ 18, người này có khả năng hình dung phi thường và đã được mô tả trong một nghiên cứu. Nghiên cứu không nêu tên họa sĩ nhưng cho biết ông đã tiếp nhận hầu hết các khách hàng của Ngài Joshua Reynolds sau khi Reynolds qua đời, và đã tận dụng tối đa điều này bằng cách vẽ ba trăm bức chân dung trong một năm duy nhất. Tác giả của nghiên cứu, một bác sĩ người Anh tên là A. L. Wigan, cho biết:
Điều này dường như là bất khả thi về mặt vật lý, nhưng bí quyết cho tốc độ và thành công đáng kinh ngạc của ông là thế này: Ông chỉ cần một lần ngồi mẫu duy nhất, và vẽ với một sự điêu luyện đến mức thần kỳ. Chính tôi đã chứng kiến ông thực hiện một bức chân dung khổ nhỏ (kit-cat) của một quý ông mà tôi biết rõ, trong chưa đầy tám tiếng đồng hồ; bức chân dung được hoàn thiện tỉ mỉ và giống người thật một cách đáng kinh ngạc. Khi tôi hỏi ông ấy về điều đó, ông ấy nói: “Khi có người đến ngồi mẫu, tôi quan sát người đó chăm chú trong nửa giờ, thỉnh thoảng phác thảo lên canvas. Tôi không cần gì thêm nữa — tôi cất tấm canvas đó đi và đón người khách khác. Khi tôi muốn tiếp tục bức chân dung đầu tiên, tôi lấy tấm canvas đó ra và hình dung ông ta đang ngồi trên ghế và tôi có thể thấy ông ấy rõ rệt như thể ông ấy đang ở trước mặt tôi bằng xương bằng thịt — thậm chí có thể nói là sống động hơn. Thỉnh thoảng tôi nhìn vào hình ảnh tưởng tượng, sau đó làm việc với bút vẽ, rồi lại tham chiếu vào khuôn mặt đó, và cứ thế, giống như tôi vẫn làm nếu người mẫu ở đó — khi tôi nhìn vào chiếc ghế, tôi thấy người đàn ông đó!”
Tuy nhiên, hình ảnh mà họa sĩ này hình dung ra trong đầu sống động đến mức ông bắt đầu nhầm lẫn các hình trong tâm trí với thực tế, và mắc phải một căn bệnh tâm thần kéo dài ba mươi năm.
Chứng siêu tưởng tượng (hyperphantasia” thường đóng vai trò như một bộ khuếch đại cảm xúc trong bệnh tâm thần — làm cho chứng hưng cảm nhẹ nghiêm trọng hơn, làm chứng trầm cảm trở nên nặng hơn, khiến những hình ảnh gây ám ảnh trong P.T.S.D trở nên thực tế và đáng lo ngại hơn. Reshanne Reeder, một nhà thần kinh học tại Đại học Liverpool, bắt đầu phỏng vấn những người mắc chứng siêu tưởng tượng vào năm 2021 và thấy rằng nhiều người trong số họ có một thế giới tưởng tưởng trong đầu mà họ có thể bước vào bất cứ lúc nào. Nhưng họ cũng dễ bị mắc phải cái mà bà gọi là “mơ mộng không thích nghi” (maladaptive daydreaming). Họ có thể bị cuốn vào thế giới đó đến mức nếu lúc đó học đang đi dạo bộ thì họ sẽ lang thang, không để ý đến xung quanh để rồi bị lạc. Thật khó để họ có thể kiểm soát trí tưởng tượng của mình: một khi họ hình dung ra điều gì đó, thật khó để thoát khỏi nó. Những người siêu tưởng tượng rất dễ dàng hình dung ra những cảnh tượng sống động như thật đến mức sau đó họ có thể trở nên không chắc chắn đâu là thực tế, đâu là tưởng tượng.
“Tôi có thể tưởng tượng cảnh bàn tay mình đang bốc cháy, và nó chân thật đến mức tôi thấy đau đớn. Tôi luôn tò mò — nếu họ đưa tôi vào máy fMRI, điều đó có hiện lên không? Đó là một trong những vấn đề lớn nhất trong đời tôi: khi tôi cảm thấy điều gì đó, liệu nó có thật không?”
Một người siêu tưởng tượng đã kể với một nhà nghiên cứu rằng anh đã hơn một lần đâm sầm vào tường vì anh đã hình dung ra một cánh cửa.
Bởi vì đời sống tưởng tượng của họ quá phong phú, những người siêu tưởng tượng có xu hướng tập trung vào bên trong. Điều này có thể có nghĩa là họ bị tách rời khỏi thực tế, sống trong những ký ức của quá khứ và tương lai tưởng tượng nhiều hơn là trong thực tế hiện tại. Nhưng nó cũng có thể có nghĩa là họ cực kỳ nhạy cảm và nhận thức một cách rõ ràng về thực tại nội tâm của mình, nhạy bén với các tín hiệu của cơ thể và sự thay đổi trong cảm xúc của họ. Một số nhà nghiên cứu giả định rằng nhận thức tăng cao về các tín hiệu cơ thể và cảm xúc này là một lý do khiến những người có khả năng hình dung sống động thường có ký ức mạnh mẽ về quá khứ — những tín hiệu này bằng cách nào đó giúp “neo giữ ký ức vào bản thân”.
Ký ức của những người siêu tưởng tượng có thể cực kỳ chi tiết.
“Ai đó có thể nhắc đến một điều gì đó kiểu như: Hồi nhỏ bạn có từng chơi trượt ván không? Thì sau đó sẽ có một dòng lũ của mọi trải nghiệm trượt ván mà tôi từng có ùa về. Nó giống như đang ở trong thực tế ảo và có một video 360 độ về một nghìn trải nghiệm trượt ván cùng một lúc.”
Ký ức có thể mang những hình thái giả-vật-chất trong tâm trí họ. Họ có thể hình dung ra những xấp hồi ức, hay những tệp thông tin, được xếp trên các dãy kệ trong một kho lưu trữ tinh thần. Họ có thể tưởng tượng ra các danh sách sự kiện về một địa điểm cụ thể được ghim vào địa điểm đó trên một bản đồ tâm trí rộng lớn và chi tiết mà họ thấy trải ra trước mặt, như một hình ảnh ba chiều.
Reeder đã kiểm tra khả năng tưởng tượng của trẻ em và tin rằng hầu hết trẻ em đều là người siêu tưởng tượng. Chúng chưa trải qua quá trình “cắt tỉa khớp thần kinh” (synaptic pruning) diễn ra ở tuổi vị thành niên, vì vậy có vô số kết nối thần kinh liên kết các phần khác nhau của bộ não, tạo ra hình ảnh phong phú. Sau đó, khi chúng lớn lên, các kết nối yếu hơn sẽ bị cắt tỉa đi. Các khớp thần kinh bị cắt tỉa thường có xu hướng là những khớp ít được sử dụng, vậy nên Reeder cho rằng rất có thể những đứa trẻ lớn lên trở thành người lớn siêu tưởng tượng là những người vẫn tiếp tục muốn duy trì thế giới giả tưởng trong đầu họ, ngay cả khi họ lớn hơn. Ngược lại, có lẽ những đứa trẻ lớn lên với khả năng hình dung bình thường thì mơ mộng ngày càng ít đi, trở nên quan tâm hơn đến những con người và sự vật thực tế xung quanh. Có thể một số đứa trẻ thích mơ mộng đã bị mắng mỏ, ở trường hoặc ở nhà, bị yêu cầu phải chú ý, và có lẽ những đứa trẻ này đã tự rèn luyện mình để tập trung vào cái ở đây và bây giờ và đánh mất khả năng du hành đến những thế giới tưởng tượng mà chúng từng biết khi còn nhỏ.
Clare không bị ngăn cấm việc mơ mộng khi còn nhỏ, và cô thích đắm chìm vào thế giới tưởng tượng trong đầu mình hơn so với một hình thức thoát ly phổ biến khác là đọc sách. Mơ mộng đối với cô thú vị hơn vì cô đã gặp nhiều khó khăn khi học đọc, và ngay cả khi đã biết đọc, cô thấy việc đọc vẫn tiến triển rất chậm. Khi nhận được chẩn đoán mắc chứng khó đọc (dyslexia) lúc đã trưởng thành, người kiểm tra nói với cô rằng, thay vì xử lý từng chữ cái hoặc âm tiết riêng lẻ, cô ghi nhớ hình ảnh của toàn bộ từ, điều này khiến cô khó nhận ra từ đó trong các phông chữ khác nhau. Cảm quan thị giác của cô quá mạnh mẽ đến mức việc đọc sách trở nên mệt mỏi, bởi vì cô dễ bị xao nhãng bởi những nét uốn lượn và đường kẻ của văn bản.
Đương nhiên, những người mù tâm tưởng thường có trải nghiệm đọc rất khác. Giống như hầu hết mọi người, khi họ trở nên say mê, họ ngừng chú ý đến các đặc điểm thị giác của các từ trên trang giấy, và vì mắt họ hoàn toàn bận rộn với việc đọc, họ cũng ngừng chú ý đến thế giới thị giác xung quanh. Nhưng, vì các từ ngữ không gợi lên hình ảnh nào trong tâm trí họ, nên việc đọc gần như bỏ qua hoàn toàn thế giới thị giác và đi thẳng vào tâm trí họ.
Người mù tâm tưởng có thể bỏ qua các đoạn miêu tả trong sách — vì miêu tả không gợi lên hình ảnh nào trong đầu họ, họ thấy nó tẻ nhạt — hoặc vì những đoạn văn như vậy mà họ tránh hoàn toàn thể loại hư cấu. Một số người mù tâm tưởng thấy các phiên bản phim chuyển thể từ tiểu thuyết hấp dẫn hơn, vì chúng cung cấp những hình ảnh mà họ không thể tưởng tượng được. Tất nhiên, đối với những người có hình ảnh tâm trí, việc nhìn thấy một nhân vật trong sách trên phim thường gây khó chịu — bởi vì họ đã có một hình ảnh tâm trí sắc nét về nhân vật đó và hình ảnh đó vốn trông không giống diễn viên, hoặc vì hình ảnh của họ mơ hồ nhưng vừa đủ cụ thể để thấy diễn viên trông có vẻ “sai sai”, hoặc vì hình ảnh trong đầu họ vốn đã rất mơ hồ và nên khi thấy một diễn viên bằng xương bằng thịt, sự vững chãi đó xung đột mạnh mẽ với sự mơ hồ mà họ hình dung ra.
Có lẽ, các tiểu thuyết gia người đã sáng tạo ra các nhân vật cũng có nhiều phản ứng khác nhau khi thấy các nhân vật đó được hiện thân trong một hình ảnh cụ thể. Jane Austen đã viết một lá thư cho em gái mình vào năm 1813, trong đó bà mô tả việc đi xem một cuộc triển lãm tranh ở London và tìm kiếm những bức chân dung trông giống Elizabeth Bennet và Jane Bingley, hai nhân vật chính trong “Kiêu hãnh và Định kiến”. Trước sự vui mừng của mình, bà đã thấy “một bức chân dung nhỏ của Phu nhân Bingley, giống cô ấy một cách đáng kinh ngạc… chính xác là cô ấy, về vóc dáng, hình dáng khuôn mặt, các đường nét và sự dịu dàng; chưa bao giờ có một bức chân dung nào giống hơn thế. Cô ấy mặc một chiếc váy trắng, với những món đồ trang sức màu xanh lá cây, điều này càng củng cố thêm điều tôi vẫn luôn cho rằng, màu xanh lá cây là màu yêu thích của cô ấy.” Austen đã không thấy Elizabeth tại triển lãm nhưng hy vọng, như bà nói với em gái mình, sẽ tìm thấy một bức tranh về cô ấy ở đâu đó trong tương lai. “Chị dám chắc là Phu nhân D.” — bà viết, Darcy là tên sau khi kết hôn của Elizabeth — “sẽ mặc đồ màu vàng.”
Trong khoảng hai mươi người mắc chứng mù tâm tưởng bẩm sinh đã liên lạc với Adam Zeman sau bài báo năm 2010 của ông, có một người đàn ông Canada ngoài hai mươi tuổi tên là Tom Ebeyer. Ebeyer đã tình nguyện tham gia các nghiên cứu của Zeman, và sau khi Zeman công bố bài báo về chứng mù tâm tưởng bẩm sinh trên tạp chí Cortex năm 2015, Ebeyer là một trong những người tham gia được trích dẫn trong bài báo trên tờ Times về chủ đề này. Sau đó, hàng trăm người mù tâm tưởng đã tìm đến anh trên Facebook và LinkedIn. Họ hỏi anh những câu hỏi mà anh không biết câu trả lời: Điều này có nghĩa là tôi bị khuyết tật hả? Có thuốc chữa không?
Nhiều người trong số những người liên lạc với Ebeyer cảm thấy sốc và bị cô lập, giống như anh đã từng; anh nghĩ rằng cần phải có một diễn đàn trực tuyến nơi những người mù tâm tưởng có thể tìm kiếm thông tin và cộng đồng. Anh đã lập một trang web tên là Aphantasia Network. Tuy nhiên, anh không muốn nó là một nơi buồn bã nơi mọi người chỉ thuần tuý than vãn với nhau. Anh tin rằng chứng mù tâm tưởng cũng có những mặt tốt, và anh bắt đầu viết những bài đăng tích cực chỉ ra những mặt tốt đó. Trong một bài viết, anh lập luận rằng mù tâm tưởng là một lợi thế trong tư duy trừu tượng. Khi nghe nhắc đến từ “ngựa”, một người có hình ảnh tâm trí có khả năng sẽ hình dung ra một con ngựa cụ thể — một con họ đã thấy trong đời thực, có lẽ vậy, hoặc trong một bức tranh. Ngược lại, một người mù tâm tưởng tập trung vào khái niệm về con ngựa — vào bản chất trừu tượng của “tính ngựa”. Ebeyer đã đăng các bài viết về những người nổi tiếng đã nhận ra họ bị mù tâm tưởng: Glen Keane, một trong những nhà làm phim hoạt hình hàng đầu của Disney trong “Nàng tiên cá” và “Người đẹp và Quái vật”; John Green, tác giả của “Lỗi tại những vì sao”, sách của ông đã bán được hơn 50 triệu bản; J. Craig Venter, nhà sinh vật học đã dẫn đầu nhóm các nhà khoa học đầu tiên giải mã thành công bộ gen người; Blake Ross, người đồng sáng tạo trình duyệt web Mozilla-Firefox khi mới 19 tuổi.
Ebeyer cũng muốn Aphantasia Network trở thành nơi người mù tâm tưởng có thể tìm thấy các nghiên cứu khoa học mới nhất. Chẳng hạn, việc ước tính sức mạnh của khả năng tưởng tượng ở một người trước đây hoàn toàn mang tính chủ quan cho đến khi Joel Pearson, một nhà thần kinh học nhận thức tại Đại học New South Wales, Úc, nghĩ ra các bài kiểm tra để đo lường nó một cách chính xác hơn. Trong một bài báo từ năm 2022, Pearson báo cáo rằng khi những người có hình ảnh tâm trí hình dung ra một vật thể sáng, đồng tử của họ sẽ co lại, như thể họ đang nhìn thấy một vật thể sáng trong đời thực, nhưng đồng tử của những người mù tâm tưởng khi tưởng tượng ra một vật thể sáng vẫn giữ nguyên. Một nghiên cứu khác của ông đã chỉ ra rằng, mặc dù những người mù tâm tưởng có phản ứng sợ hãi (đổ mồ hôi) giống như ở những người có khả năng tưởng tượng bình thường khi họ nhìn thấy hình ảnh đáng sợ trên màn hình, nhưng khi nghe kể hoặc đọc một câu chuyện kinh dị, họ hầu như không phản ứng gì cả.
Ebeyer giữ liên lạc với Zeman và công bố các bản tin về nghiên cứu của ông. Zeman đã phát hiện ra rằng người mù tâm tưởng có thể giải quyết nhiều vấn đề vốn dường như đòi hỏi khả năng tưởng tượng, chẳng hạn như đếm số cửa sổ trong nhà của họ. Điều này, Zeman giả định, là do sự khác biệt giữa khả năng hình dung vật thể và khả năng hình dung không gian. Có hai luồng thông tin thị giác trong não bộ khác biệt nhau một cách đáng ngạc nhiên: một luồng liên quan đến việc nhận dạng vật thể; luồng kia liên quan đến việc hướng dẫn hành động qua không gian. Người mù tâm tưởng thiếu khả năng hình dung vật thể, nhưng họ có thể có khả năng hình dung không gian, cho phép họ đếm số cửa sổ. Một người mù tâm tưởng đã mô tả khả năng này của mình như một dạng định vị bằng tiếng vang (echolocation).
Đối với Zeman, một trong những hứa hẹn hấp dẫn nhất của việc nghiên cứu hình ảnh tâm trí là khả năng làm sáng tỏ các mối tương quan thần kinh của ý thức. Các kết nối trong não dường như đặc biệt quan trọng trong cả ý thức và chứng mù tâm tưởng. Các nghiên cứu sử dụng fMRI đã chỉ ra sự giảm kết nối ở những người mù tâm tưởng, và Brian Levine, một nhà tâm lý học thần kinh tại Học viện Nghiên cứu và Giáo dục Baycrest ở Toronto, đã phát hiện ra rằng kết nối giữa hệ thống ghi nhớ và các vùng nhận thức thị giác trong não có liên quan với việc con người có thể ghi nhớ cuộc đời mình tốt như thế nào. Nhiều người mù tâm tưởng viết thư cho Zeman đã tự nhận mình bị tự kỷ. Tự kỷ được cho là trạng thái giảm khả năng kết nối tầm xa trong não, vì vậy Zeman đã đưa ra giả thuyết rằng có thể có một mối liên hệ. Nhưng tự kỷ cũng được cho là có liên quan tới khả năng tư duy bằng hình ảnh — Temple Grandin, một giáo sư ngành khoa học động vật kiêm nhà văn mắc chứng tự kỷ, đã mô tả chứng tự kỷ của mình như thế — vì vậy rõ ràng mối liên hệ này không hề đơn giản.
Sau khi thành lập Aphantasia Network, Ebeyer đã nhận được hàng chục nghìn tin nhắn từ khắp nơi trên thế giới — Hàn Quốc, Venezuela, Madagascar. Anh cũng thành lập Aphantasia Network Nhật Bản và lập kế hoạch cho một trang web tiếng Tây Ban Nha. Khi thành phố Rowlett, một vùng ngoại ô của Dallas, tuyên bố Ngày Nhận thức về chứng mù tâm tưởng đầu tiên trên thế giới vào ngày 21 tháng 2 năm 2023, trang web của anh đã đăng một bài viết kỷ niệm. Khi bắt đầu có nhiều bài viết hơn về chứng siêu tưởng tượng, anh cũng nhận được nhiều tin tức hơn từ những người siêu tưởng tượng. Khi anh viết một bài về việc một số người có thể “nghe thấy” âm nhạc trong đầu, hoặc mường tượng ra các kích thích xúc giác hay vị giác, hầu hết các phản hồi là từ những người mù tâm tưởng, những người vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng những điều như vậy là có thể. Nhưng có một người đã viết cho anh và mô tả về một loại siêu tưởng tượng thính giác:
Tôi có thể – và thường xuyên – nghe trọn vẹn các tác phẩm cổ điển phát ra trong đầu. Tác phẩm dài nhất mà tôi từng nghe liên tục là toàn bộ bản Requiem của Verdi, trong một chuyến bay đường dài. Âm thanh rất rất chi tiết. Tôi có thể hình dung một bản nhạc và xác định được các nhạc cụ đang chơi trong một kết cấu dàn nhạc, hoặc âm sắc được sử dụng trong một đoạn nhạc organ cụ thể. Tôi không thể tắt nó đi. Nó vang lên trong đầu tôi khi tôi viết (Schumann, bản giao hưởng số 3, chương cuối). Đôi khi một đoạn nhạc ngắn sẽ lặp đi lặp lại vô tận, thường là khi tôi bị căng thẳng. Và nếu tôi thức giấc vào ban đêm, thường làdo một chuỗi ngắn các hợp âm lặp đi lặp lại.
Tháng Giêng vừa qua, Zeman và các cộng sự đã công bố một bài viết ngắn trên tờ Cortex làm rõ rằng định nghĩa về chứng mù tâm tưởng bao gồm cả những người có khả năng hình dung yếu. Ebeyer đã viết một bài phản hồi, tự hỏi liệu định nghĩa bao quát này có nguy cơ làm loãng trải nghiệm của những người mù tâm tưởng hoàn toàn như chính anh hay không. Liệu nó có đe dọa đến sự gắn kết của cộng đồng những người mù tâm tưởng hay không? Rốt cuộc, tại thời điểm này, aphantasia không chỉ là một hội chứng — nó còn là một bản sắc (identity).
Trong quá trình tìm hiểu về khả năng hình dung, nhà vật lý học Nick Watkins đã tình cờ đọc được một tiểu luận của Oliver Sacks. Sacks đề cập rằng thông thường ông hầu như không có hình ảnh tâm trí nào nhưng trong một khoảng thời gian hai tuần lúc ba mươi tuổi, ông có sử dụng một lượng lớn amphetamine, và đột nhiên trong thời gian đó ông có thể lưu giữ hình ảnh trong tâm trí mình — mặc dù chỉ là hình ảnh của những thứ ông vừa nhìn thấy. Khi đó, ông cũng thấy khó khăn hơn nhiều trong việc tư duy trừu tượng. Khi thuốc hết tác dụng, các hình ảnh biến mất và tư duy trừu tượng của ông quay trở lại. Nick nghĩ rằng đây là một phát hiện đầy hứa hẹn, rằng bằng cách nào đó bạn có thể kích hoạt khả năng tưởng tượng của mình. Chắc chắn anh sẽ không tự mình dùng amphetamine — anh là một người khá thận trọng — đặc biệt là nếu làm vậy có thể gây nguy hiểm cho khả năng tư duy trừu tượng của anh. Nhưng nếu amphetamine có thể hiệu quả, có lẽ một thứ khác cũng có thể.
Anh tiếp tục tòi và phát hiện ra rằng Aldous Huxley cũng bị mù tâm tưởng. Trong cuốn “The Doors of Perception”, ông đã viết rằng mình kỳ vọng mescaline sẽ thay đổi điều này, dù chỉ trong vài giờ. (Nhưng nó đã không thành công.) Không có gì ngạc nhiên khi gần đây những nghiên cứu về việc chất gây ảo giác (psychedelics) làm sống lại hy vọng có thể đánh thức khả năng hình dung bằng thuốc. Năm 2018, tờ Journal of Psychedelic Studies đã đăng một bài báo về một người đàn ông mù tâm tưởng, S.E., đã uống ayahuasca và có một trải nghiệm cảm xúc mãnh liệt khi hình dung, và sau đó tha thứ cho người cha đã khuất từ lâu, người đã bỏ rơi ông khi ông còn rất nhỏ. Sau đó, S.E. vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh, nhưng chỉ mờ nhạt. Ông và các tác giả bài báo kết luận rằng chứng mù tâm tưởng của ông có khả năng là do nguồn gốc tâm lý, vì nó đã được giải quyết bằng cảm giác rằng mọi chuyện giữa ông và cha đã được dàn xếp ổn thỏa. Một bài báo khác, được công bố trên cùng tạp chí vào năm 2025, mô tả một phụ nữ mắc chứng tự kỷ và không có khả năng hình dung, ở độ tuổi giữa ba mươi, đã ăn nấm psilocybin và lần đầu tiên trải nghiệm hình ảnh tâm trí. Khả năng tưởng tượng của cô tồn tại trong nhiều tháng, mặc dù nó không sống động như khi cô vừa dùng nấm.
Nick vẫn hy vọng ai đó sẽ tìm ra cách kích thích khả năng hình dung mà không cần dùng thuốc. Mặt khác, khi anh biết thêm về những người có khả năng hình dung, anh bớt cảm thấy ghen tị với họ. Lúc đầu, anh nghĩ rằng có việc có khả năng hình dung sẽ giống như có một chiếc máy phát video trong đầu, có thể chiếu những bộ phim gia đình bất cứ khi nào bạn cảm thấy hoài niệm. Nhưng, đọc thêm về nó, anh biết được rằng ký ức và hình ảnh có thể bất ngờ xuất hiện, không báo trước và không thể kiểm soát, và không nhất thiết phải là những hình ảnh hạnh phúc. Ngay cả khi hình ảnh không đáng sợ thì nó vẫn chắc chắn sẽ gây xao nhãng. Anh dần coi trọng sự tĩnh lặng và bóng tối trong tâm trí mình.
Nick biết rằng bất cứ khi nào Zeman nói về chứng mù tâm tưởng, ông đều nỗ lực nhấn mạnh rằng đó không phải là một bệnh, cũng không phải là một điều xấu. Tốt nhất là nên mô tả nó như một biến thể thú vị trong trải nghiệm của con người, giống như chứng liên giác (synesthesia). Nick đánh giá cao điều này ở Zeman, và cho rằng đó có lẽ là điều đúng đắn nên nói, nhưng anh nghĩ rằng, mặc dù bản thân chứng mù tâm tưởng có thể là trung tính, nhưng việc mất trí nhớ đi kèm với nó chắc chắn là một điều tệ hại. Nhiều người khác cũng cảm thấy như vậy. Có một lần, Zeman nói chuyện với một kỹ sư ô tô từ Essex tên là Alan Kendle, người đã nhận ra mình bị mù tâm tưởng khi nghe một đoạn trên đài phát thanh nói về tình trạng này. Kiến thức mới này ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức ông đã biên soạn một cuốn sách phỏng vấn những người mắc chứng mù tâm tưởng, chỉ được xác định bằng chữ cái đầu tên của họ, để giúp những người khác có thể định hướng để khám phá thêm về vấn đề này. Một số người ông phỏng vấn không hề bận tâm — chắc chắn mỗi người sẽ có một phản ứng khác nhau — nhưng một số người khác lại coi đó là một lời nguyền.
Nhiều người có thể nhớ rất ít về cuộc đời mình, và ngay cả với những sự kiện họ nhớ được, họ cũng không thể nhớ được cảm giác của họ lúc đó như thế nào. Họ biết rằng một số điều đã làm họ hạnh phúc và những điều khác làm họ buồn, nhưng kiến thức đó chỉ là những chi tiết kĩ thuật — nó không gợi lên bất kỳ cảm xúc nào trong hiện tại.
M.L.: Tôi có cảm giác như mình là một kẻ ngoài cuộc. Như một người khác đứng ngoài nhìn vào cuộc đời của chính mình, chứ không phải là nhân vật chính trực tiếp trải nghiệm nó. Tôi không thích các kỳ nghỉ hay những chuyến đi ngắm cảnh — có ích gì chứ? Bạn đi, bạn thấy mọi thứ, bạn về nhà, và nó biến mất. Không một dấu vết hay cảm giác nào còn sót lại.
Lợi thế của một trí nhớ kém là những người mù tâm tưởng dường như ít đau khổ hơn vì sự hối tiếc, xấu hổ hay oán hận.
L.: Tôi có thể dễ dàng bước tiếp, quên đi, không ôm hận, không sống trong quá khứ, và không mơ mộng về tương lai. Là thế đấy! Tôi có thể sống trong HIỆN TẠI.
S.C.: Tôi làm việc cho các đơn vị phản ứng nhanh, và tôi đã nói chuyện với các đồng nghiệp về việc họ nghĩ phần khó khăn nhất của công việc này là gì. Tất cả họ đều nói đó chắc chắn là sự ám ảnh dai dẳng của những ký ức đau buồn mà họ đã trải qua… Chính vì lý do này mà tôi thấy mừng vì mình không thể hình dung. Khi tôi về nhà, sau khi chứng kiến ai đó chết trước mặt mình, tôi đi ngủ, nhắm mắt lại, và không thấy gì ngoài bóng đen trong một phút. Sau đó, tôi chìm vào thế giới giấc mơ của mình.
Nhưng cái gọi là lợi thế này chỉ là khía cạnh tích cực nhỏ nhoi của một điều gì đó khá đen tối. Khi những người mù tâm tưởng hồi phục sau sự mất mát, hay chia tay, hoặc chấn thương nhanh hơn những người khác, họ lo lắng rằng mình quá xa cách hoặc bị khiếm khuyết về cảm xúc. Khi họ không gặp mọi người thường xuyên, ngay cả gia đình, họ có xu hướng không nghĩ về họ.
M.L.: Tôi không nhớ nhung ai khi họ không ở bên cạnh. Con cái và cháu chắt của tôi rất quý giá đối với tôi, theo một cách kín đáo. Tôi hết mực bảo vệ chúng nhưng không phiền lòng nếu chúng không đến thăm hay gọi điện… Tôi nghĩ điều đó khiến chúng cảm thấy như thể tôi không hề yêu thương chúng chút nào. Tôi yêu thương chúng, nhưng chỉ khi chúng ở bên tôi, khi chúng rời đi, chúng thực sự không còn tồn tại nữa, ngoại trừ với tư cách như một “câu chuyện”.
Một trong những người được Kendle phỏng vấn là Melinda Utal, một nhà thôi miên trị liệu và cây viết tự do đến từ California. Cô gặp khó khăn trong việc nhận diện mọi người, kể cả những người cô biết khá rõ, vì vậy cô có xu hướng tránh những tình huống xã giao nơi cô có thể làm tổn thương cảm xúc của ai đó. Khi lần đầu tiên phát hiện ra mình bị mù tâm tưởng, cô đã gọi điện cho cha mình, người đang ở giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer và sống trong một viện dưỡng lão ở Oregon. Ông từng là một nhạc sĩ trong các ban nhạc lớn — ông đã đi lưu diễn với Bob Hope và chơi nhạc với Les Brown và nhóm Band of Renown của ông ấy. Cô hỏi ông liệu ông có thể hình dung ra một cảnh tượng trong đầu không, và ông nói: Tất nhiên rồi. Cha có thể hình dung việc mình bước vào một phòng hòa nhạc. Cha thấy gỗ trên tường, cha thấy những chiếc ghế, cha biết mình sẽ ngồi ở phía sau, vì đó là nơi có thể nghe được âm thanh tốt nhất. Cha có thể thấy dàn nhạc đang chơi một bản giao hưởng, cha có thể nghe thấy tất cả các nhạc cụ khác nhau, và cha có thể dừng nó lại rồi quay ngược lại bất cứ nơi nào cha muốn nó bắt đầu lại và nghe nó lần nữa. Cô giải thích cho cha mình chứng mù tâm tưởng là gì, nói với ông rằng cô không thể thấy hình ảnh trong tâm trí, cũng không thể hình dung ra những giai điệu âm nhạc. Qua điện thoại, cha cô bắt đầu khóc. Ông nói: Nhưng, Melinda, đó là điều làm nên con người chúng ta.
Melinda có một trí nhớ cực kỳ tệ về cuộc đời mình, ngay cả đối với một người mù tâm tưởng. Cô từng đi kiểm tra chứng sa sút trí tuệ, nhưng bác sĩ không thấy có gì sai cả. Từ khi học lớp hai. cô đã nhận thức được rằng mình có trí nhớ kém, sau khi một người bạn chỉ ra cho cô thấy điều đó. Để níu giữ ký ức, cô bắt đầu viết nhật ký từ hồi tiểu học, ghi lại những gì mình làm hầu như mỗi ngày, và tiếp tục thói quen này trong nhiều thập kỷ. Khi cô ngoài sáu mươi tuổi, ly hôn và tự mình chuyển đến một căn hộ khác, cô nghĩ đây sẽ là thời điểm tốt để xem lại các cuốn nhật ký của mình và nhớ lại những ngày trẻ tuổi. Cô mở một cuốn và bắt đầu nức nở, kinh hãi khi nhận ra những từ ngữ cô đã viết chẳng có ý nghĩa gì với cô cả. Những cuốn nhật ký ấy vô dụng. Cô đọc về những việc mình đã làm và cảm thấy như thể những điều đó đã xảy ra với ai đó khác.
Cô không chỉ đánh mất ký ức về những quá khứ xa xôi — cô liên tục nhận thức được hiện tại đang trôi đi ngay khi nó vừa xảy ra. Cô đã quên mất hai đứa con trai mình hồi nhỏ trông như thế nào, cảm giác khi bế chúng ra sao:
Nó giống như là, đây chính là chúng của bây giờ, chúng chưa bao giờ là ai khác cả, và điều đó giống như một con dao đâm vào ngực tôi.
Giờ đây, nỗi sợ lớn nhất của cô là nếu lâu rồi không gặp các con trai, cô có thể quên sạch bọn trẻ:
Tôi đã phải chấp nhận rằng cuộc đời mình giống như nước chảy qua kẽ tay. Nó chỉ là những trải nghiệm lướt qua bàn tay mà tôi không thể nắm giữ được.
Mặc dù Nick đã chấp nhận việc mình thiếu khả năng hình dung, nhưng anh vẫn cảm thấy buồn vì không thể nhớ lại quá khứ của mình. Có lúc, anh tình cờ đọc được công trình nghiên cứu của một nhà tâm lý học người Canada, Endel Tulving. Đầu những năm 1970, người này đã đề xuất rằng trí nhớ không phải là một thể thống nhất mà là hai hệ thống riêng biệt: trí nhớ ngữ nghĩa (semantic memory) – bao gồm kiến thức chung về thế giới, và trí nhớ tình tiết (episodic memory) – sự hồi tưởng lại những trải nghiệm từ chính cuộc đời mình. Tulving tin rằng trí nhớ tình tiết và cảm giác sống lại quá khứ chỉ có ở con người, và là một trong những sản phẩm đáng kinh ngạc nhất của quá trình tiến hóa.
Nick nhận ra đó chính là điều anh không có. Việc biết rằng mình thiếu một khả năng phi thường của con người — một khả năng mà, theo như anh cho rằng, có thể tái tạo và làm sâu sắc thêm vô hạn mối liên hệ của anh với với cuộc sống trước đây và những người con người trong cuộc sống đó, bao gồm cả chính anh khi còn nhỏ — ồ, chẳng có gì tốt đẹp về điều đó cả. Anh thà đừng biết thì hơn.
Anh viết thư cho Tulving, và Tulving đã kể cho anh về một nghiên cứu sẽ được thực hiện bởi Brian Levine, nhà tâm lý học thần kinh tại Baycrest, người từng là đồng nghiệp của ông ở Toronto. Nghiên cứu này tìm hiểu về những người lớn khỏe mạnh với ký ức cá nhân đặc biệt kém — những người không bị mất trí nhớ, sa sút trí tuệ, chấn thương não hay chấn thương tâm lý. Sau này, Levine đã đặt tên cho hội chứng này là “ký ức cá nhân suy giảm nghiêm trọng” (severely deficient autobiographical memory), hay SDAM. Nick được chấp nhận tham gia nghiên cứu và đã đến Toronto. Nghiên cứu phát hiện ra rằng trải nghiệm SDAM của những người tham gia có thể được chứng thực một cách khách quan bằng nhiều phương pháp khác nhau, khi so sánh họ với một nhóm đối chứng. Chẳng hạn, fMRI cho thấy sự giảm kích hoạt ở các vùng giữa (midline) của não bộ, một khu vực thường liên quan đến khả năng du hành thời gian trong tâm trí.
Nick đã rất ngạc nhiên khi nghe một người tham gia nghiên cứu khác mô tả một trải nghiệm mất trí nhớ tình tiết còn nghiêm trọng hơn cả mình. Cô cảm thấy xa lạ với quá khứ của mình đến nỗi những sự kiện cô biết về nó đối với cô không còn mang tính cá nhân hơn so với những sự kiện về người khác. Anh chắc chắn không cảm thấy như vậy. Những điều anh biết về cuộc đời mình mang tính cá nhân đối với anh hơn là những sự thật anh biết về vật lý, chẳng hạn vậy, ngay cả khi anh không thể sống trong đó theo cách mà người khác có thể. Anh nhận ra rằng mô hình nhị phân của Tulving, vốn phân loại tất cả ký ức thành tình tiết hoặc ngữ nghĩa, là quá đơn giản. Những ký ức của chính anh nằm ở đâu đó giữa hai loại đó.
Anh nhớ rằng vào ngày mẹ anh qua đời, năm 2003, chị gái anh đã gọi điện báo rằng mẹ đang được đưa vào bệnh viện; anh đã bắt tàu từ Cambridge đến London, và anh đã gọi điện cho một người bạn cũ nhờ nhờ họ đến gặp anh ở London vì anh lo lắng rằng trong cơn đau khổ, anh có thể đi nhầm ga và lỡ chuyến tàu thứ hai cần bắt, Người bạn đã giúp anh, và anh đã lên đúng tàu, đó là thời điểm gần lễ Guy Fawkes Night, pháo hoa nổ vang bên ngoài cửa sổ tàu. Anh đến bệnh viện và ở đó một lúc, và rồi mẹ anh qua đời. Anh biết những điều này, và ý nghĩ về việc mẹ qua đời khơi gợi cảm xúc trong anh, nhưng anh không thể nhớ được cảm xúc của mình lúc ngồi tàu, hay lúc ở bệnh viện như thế nào, và anh không thể nhớ được khuôn mặt của mẹ mình.
Từ quan điểm tiến hóa, anh giả định, anh có tất cả trí nhớ mà anh cần: đủ để biết mình đã yêu quý điều gì và yêu thương ai, và mình nên tránh lặp lại điều gì. Nhưng suy nghĩ theo cách đó là bỏ qua điều quan trọng nhất — không phải chức năng của trí nhớ tình tiết mà là trải nghiệm về nó. Khi hiểu được ý nghĩa của việc thiếu trí nhớ tình tiết, anh bắt đầu tự hỏi liệu có cách nào anh có thể mô phỏng nó hay không. Anh bị thu hút bởi ý tưởng ghi lại cuộc sống qua video bằng máy quay đeo trên người — các cảnh quay sẽ là một sự thay thế khá tốt cho việc du hành thời gian trong tâm trí. Tuổi thơ và thời niên thiếu của anh đã mất đi, nhưng nếu anh bắt đầu quay phim ngay bây giờ, anh sẽ có thể sống lại ít nhất là một hoặc hai thập kỷ cuối của cuộc đời mình.
Trong một chuyến đi đến Pasadena, anh đã đến Apple Store và dùng thử kính thực tế ảo. Anh ấy nghĩ, đây chắc hẳn là cảm giác của trí nhớ tình tiết. Anh biết có lẽ sẽ mất một thời gian dài để mọi người chấp nhận những công nghệ như vậy, nhưng có lẽ một ngày nào đó camera đeo trên người sẽ được công nhận là thiết bị hỗ trợ cho những người mắc SDAM, cũng bình thường như kính mắt vậy. Tuy nhiên, phim ảnh sẽ rất khác với ký ức. Giống như ký ức, nó sẽ phiến diện, nhưng khác với ký ức, nó sẽ chính xác. Anh nghĩ rằng điều này có thể không nhất thiết là một điều tốt. Có điều gì đó đáng nói về một mức độ mờ nhạt và không chắc chắn khi nhớ lại quá khứ; nó hữu ích trong việc tha thứ cho người khác, và cho chính bản thân mình.
Có lúc, Nick bắt đầu quan tâm đến những ý tưởng của một triết gia người Anh, Galen Strawson, người tuyên bố không có cảm giác rằng thân mình là một thực thể liên tục phát triển — một sinh vật mà cái tôi hàm chứa một câu chuyện mạch lạc về những ký ức tích lũy và những đặc điểm riêng biệt. Strawson, vì lý do đó, không quan tâm đến quá khứ của mình. Ông thừa nhận rằng cuộc sống đã định hình con người ông, nhưng ông tin rằng việc ông có cố ý nhớ lại quá khứ hay không cũng không quan trọng đối với con người ông bây giờ, cũng không quan trọng hơn việc một nhạc công khi đang chơi một bản nhạc có thể nhớ lại ký ức về những lần anh ta tập luyện hay không: điều quan trọng là anh ấy chơi tốt như thế nào.
Điều quan trọng, Strawson cảm thấy, là cuộc sống của ông ở hiện tại. Ông thích trích dẫn lời của Bá tước Shaftesbury thứ ba, một triết gia người Anh cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18, người cũng cảm thấy như vậy:
Các nhà siêu hình học… khẳng định rằng nếu ký ức bị lấy đi, cái tôi sẽ mất. [Nhưng] ký ức thì quan trọng gì cơ chứ? Tôi phải làm gì với những ký ức đó? Nếu, khi tôi đang hiện hữu, tôi là đúng như tôi nên là, thì tôi còn quan tâm gì thêm nữa?
Nick không chắc mình có đồng ý với Strawson hay không. Và không như Strawson, anh chắc chắn không cảm thấy rằng ký ức về cuộc đời mình là không quan trọng, nhưng anh thấy lập luận đó có phần an ủi. Anh vẫn khao khát được sống lại những khoảnh khắc quan trọng trong đời, nhưng việc nghĩ về trải nghiệm này chỉ như một trong số nhiều trải nghiệm mà anh chưa từng có, như nhảy dù lượn, hay đi thăm Peru, sẽ dễ dàng hơn là coi nó như một khoảng không vô định sâu thẳm trong con người mình. Nhiều người tin rằng bản thân họ được tạo nên phần lớn bởi ký ức, và việc mất đi những ký ức đó sẽ là một thảm họa hủy diệt cái tôi. Nhưng giờ đây anh biết rằng cũng có hàng nghìn người giống như anh, những người có công việc và đời sống hôn nhân, có những ý tưởng và khát vọng bị kìm nén, những ngày tốt lành và những ngày tồi tệ và tất cả những thứ khác. Tất cả những gì họ thiếu chỉ là ký ức. ♦



Bình luận về bài viết này