Nguồn: Ernest Becker, The Denial of Death
Thuỳ sưu tầm và biên dịch

Ngày nay, chúng ta hiểu về chứng loạn thần trầm cảm (hay rối loạn tâm thần trầm cảm, depressive psychosis) như thế này: đó là sự sa lầy của một người vào những đòi hỏi của người khác, gia đình, công việc cùng những trách nhiệm hằng ngày. Trong tình trạng sa lầy đó, cá nhân không còn cảm nhận được hay nhìn thấy rằng mình có những lựa chọn thay thế khác, không thể tưởng tượng ra bất kỳ lựa chọn hay lối sống nào khác, không thể tự giải thoát bản thân khỏi mạng lưới các nghĩa vụ ngay cả khi những nghĩa vụ này không còn mang lại cho họ cảm giác tự tôn, giá trị cốt lõi, hay cảm giác mình là một người anh hùng đóng góp cho dòng chảy của cuộc sống trên thế giới dù chỉ thực hiện những nghĩa vụ gia đình và công việc hàng ngày. Như tôi đã từng suy đoán, người mắc chứng tâm thần phân liệt không gắn kết đủ sâu với thế giới của mình – điều mà Kierkegaard gọi là “căn bệnh của sự vô tận” (sickness of infinitude); mặt khác, người trầm cảm lại bám rễ vào thế giới thực một cách quá cứng nhắc và đến mức bị chính nó đè bẹp. Kierkegaard đã nói về điều này như sau:

Có hai kiểu tuyệt vọng: một kiểu cuồng dại lao mình vào cõi vô định rồi lạc lối, kiểu còn lại là tự tước bỏ cái tôi để sống theo ý người khác. Bằng cách dõi theo đám đông xung quanh, bằng cách tham gia vào đủ mọi loại chuyện trần tục, bằng cách trở nên lọc lõi và hiểu về cách mọi thứ trên thế giới này vận hành, người ta lãng quên chính mình… không dám tin vào chính mình, cảm thấy việc trở thành chính mình là một điều quá mạo hiểm, thà giống như những người khác thì dễ dàng và an toàn hơn nhiều, trở thành một bản sao, một con số, một kẻ vô danh trong đám đông.

Kierkegaard đã xuất sắc phác họa chân dung một con người “bình thường theo chuẩn mực văn hóa”, người không dám đứng lên bảo vệ những quan điểm của riêng mình vì điều này đồng nghĩa với quá nhiều hiểm nguy, quá nhiều sự phơi bày. Thà không là chính mình, thà sống nép mình vào người khác, ẩn mình trong một khuôn khổ an toàn của những nghĩa vụ và bổn phận văn hóa, xã hội.

Cần hiểu rằng trạng thái tâm lý này biến thiên trên một phổ liên tục từ nhẹ đến nặng, mà điểm cực đoan nhất của nó chính là chứng loạn thần trầm cảm. Người trầm cảm sợ hãi việc trở thành chính mình, sợ hãi việc thể hiện cá tính riêng, sợ hãi việc khẳng định ý nghĩa riêng, điều kiện sống của riêng mình, đến mức họ trông có vẻ như thực sự ngu ngốc. Họ dường như không thể hiểu được tình cảnh mà mình đang mắc phải, không thể nhìn xa hơn những nỗi sợ hãi của chính mình, không thể hiểu được tại sao mình lại sa lầy. Kierkegaard đã đúc kết trạng thái này một cách vô cùng sâu sắc:

Nếu so sánh khao khát vươn tới những giới hạn mới, những khả năng vô tận, với nỗ lực tập nói của một đứa trẻ, thì sự bế tắc không lối thoát (của việc mất đi hy vọng vào tính khả năng) giống như việc đứa trẻ đó bị câm vậy… bởi vì nếu không có tự do và hy vọng cũng như niềm tin tích cực vào những điều có thể xảy ra, con người, có thể nói là, không thể thở được.

Đây chính xác là trạng thái của người bị bệnh trầm cảm, khi người ta gần như không thể thở hay cử động. Một trong những chiến thuật vô thức mà người trầm cảm sử dụng để cố gắng hiểu được tình trạng của mình là tự coi mình là vô cùng vô dụng và có tội. Đây thực sự là một “phát minh” kỳ diệu, bởi vì nó cho phép họ thoát khỏi tình trạng câm lặng của mình, và tạo ra một số khái niệm về tình trạng của mình, tìm ra một chút ý nghĩa nào đó từ nó – ngay cả khi họ phải tự nhận mình là thủ phạm gây ra quá nhiều đau khổ không đáng có cho những người khác. Phải chăng Kierkegaard đã ám chỉ chính chiến thuật tưởng tượng này khi ông tình cờ nhận xét:

Đôi khi sự tháo vát của trí tưởng tượng con người là đủ để tạo ra hy vọng về khả năng…

Bình luận về bài viết này

Previous Post

Quote of the week

What should young people do with their lives today? Many things, obviously. But the most daring thing is to create stable communities in which the terrible disease of loneliness can be cured.

~ Kurt Vonnegut

Nếu thấy các bài viết hay và hữu ích, hãy mua cho Thuỳ một ly Marou