Tác giả: Milton H. Erickson
Thuỳ sưu tầm và biên dịch
GIỚI THIỆU
Trong khoảng thời gian gần một năm, Milton H. Erickson và Aldous Huxley đã dành nhiều thời gian lên kế hoạch để cùng nhau nghiên cứu về các trạng thái nhận thức tâm lý khác nhau. Những điều cần lưu ý đặc biệt, những phương pháp khả thi để tiếp cận, điều tra và thử nghiệm, cũng như nhiều câu hỏi khác nhau được mỗi người đề xuất riêng và sau đó cùng nhau thảo luận. Mục đích là để chuẩn bị tất cả những thứ cần thiết cho một cuộc nghiên cứu chung nhằm đảm bảo có được một nền tảng với khả năng thể hiện được tư duy của cả hai tác giả mà không bị ảnh hưởng thiên lệch từ bất cứ ai trong hai người. Đảm bảo rằng nghiên cứu này có phạm vi rộng nhất có thể nhờ các đề cương riêng do hai con người với hai nền tảng hiểu biết khác nhau chuẩn bị.
Đầu năm 1950, hai tác giả gặp nhau tại nhà của Huxley ở Los Angeles. Tại đây, hai người dành một ngày tập trung đánh giá các ý tưởng mà mỗi người đã chuẩn bị và chọn ra tất cả các thử nghiệm khả thi. Erickson đặc biệt quan tâm đến cách tiếp cận đến các vấn đề tâm lý của Huxley, phương pháp tư duy và cách sử dụng trí tuệ tiềm thức độc đáo của riêng ông vốn là điều mà cả hai người đã từng thảo luận qua trước đây. Huxley đặc biệt quan tâm đến các hoạt động thôi miên mà Erickson thực hiện. Trong những lần hợp tác ngắn ngủi trước đây của hai người, Huxley đã được chứng kiến năng lực xuất chúng của Erickson khi thực hiện thôi miên sâu (deep somnambulistic).
Cuộc gặp này được hai tác giả đánh giá là một cuộc nghiên cứu sơ bộ. Do đó, cả hai đã lên kế hoạch để làm cho nó trở nên đầy đủ và toàn diện nhất có thể mà không phải nhấn mạnh quá mức và việc hoàn thành bất cứ mục cụ thể nào. Sau khi đánh giá tất cả mọi thứ trong ngày làm việc đầu tiên, hai người lên kế hoạch cho các cuộc họp và các nghiên cứu cụ thể cần được thực hiện trong tương lai. Ngoài ra, mỗi người trong số họ đều có những mục đích cá nhân riêng. Aldous đang nghĩ đến việc thực hiện một tác phẩm văn học, còn Erickson thì mong muốn thực hiện các thử nghiệm tâm lý liên quan đến lĩnh vực thôi miên trong tương lai.
Ngày làm việc đầu tiên bắt đầu từ 8 giờ sáng và diễn ra liên tục cho đến 6 giờ chiều. Hai người đưa ra những đánh giá quan trọng để đi đến thiết lập một thỏa thuận chung nhằm làm rõ tất cả mọi thứ, kể cả các chữ viết tắt, cũng như sửa chữa bất kỳ sai sót nào. Nhìn chung, cả hai tác giả đều đưa ra những ý kiến mà đối phương cảm thấy tương đối hợp lý và cả hai đồng ý với nhau một cách tự nhiên. Một số mục mà mỗi người đưa ra phản ánh những mối quan tâm đặc biệt của họ, do mỗi người làm một công việc khác nhau và có nền tảng kiến thức khác nhau.
Toàn bộ phần ghi chép do Huxley đảm nhận bởi ông có một trí nhớ phi phàm, thậm chí có khả năng nhớ lại toàn bộ sự việc với đầy đủ tất cả mọi chi tiết. Ngoài ra ông cũng có khả năng văn chương vượt trội, đảm bảo thể hiện nội dung nghiên cứu trên văn bản một cách chuẩn chỉnh nhất. Tuy nhiên, cùng với đó, Erickson vẫn đảm trách việc ghi chú lại những hành vi của Huxley vào những thời điểm Huxley đóng vai trò là đối tượng thử nghiệm và không thể đưa ra những nhận định khách quan và đầy đủ về bản thân. Mặc dù sau thử nghiệm ông ấy có thể chia sẻ về những trải nghiệm cá nhân của mình và ông thực sự đã làm như vậy, tuy nhiên các trải nghiệm cá nhân này vẫn chưa thực sự thể hiện được đầy đủ kết quả thử nghiệm. Từ những ghi chép của Erickson, họ phát triển nó thành văn bản hoàn thiện và đưa vào nghiên cứu mà Huxley viết chính.
Không may là không lâu sau đó một vụ cháy ở California đã phá huỷ nhà của Huxley, thư viện lớn của ông với nhiều tập sách và bản thảo quý hiếm cùng vô số những tài liệu quý giá khác, chưa kể đến là những bản thảo đang viết dở của nghiên cứu chung giữa hai người và các ghi chép có liên quan. Do đó, toàn bộ dự án của hai người đi tong. Sau khi Huxley mất, Erickson đã đọc lại những ghi chép ít ỏi của ông trong quá trình hai người làm việc. Điều này thôi thúc ông quyết định phát triển và hoàn thiện những ghi chép này để trình bày với người đọc một phần nhỏ nhưng đầy đủ thông tin về dự án mà ông và bạn mình đã dành rất nhiều tâm huyết để thực hiện. Cần lưu ý là những trích dẫn được cho là của Huxley không hoàn toàn chính xác nguyên văn từng câu chữ những gì mà ông đã nói ra vì chúng được ghi lại dưới dạng viết tắt. Mặc dù vậy, ý nghĩa của chúng vẫn được đảm bảo. Ngoài ra, Huxley cũng đã xem qua các ghi chú này và đồng thuận.
BẮT ĐẦU DỰ ÁN
Dự án bắt đầu bằng việc Huxley xem xét các khái niệm và định nghĩa về nhận thức có ý thức, chủ yếu dựa trên các quan sát chủ quan trên bản thân ông và một phần của những người khác, cùng với đó là các thảo luận của ông với Erickson về các trạng thái nhận thức trong thôi miên. Mục đích là để đảm bảo rằng cả hai người đều nhất trí và nắm rõ những khác biệt trong hiểu biết của mỗi người, nhờ đó có thể thực hiện được một cuộc điều tra đáng tin cậy hơn về chủ đề mà cả hai người đều quan tâm.
Theo sau đó là một bản đánh giá chi tiết về các trải nghiệm thức thần của ông với các chất gây ảo giác, sau này được ông xuất bản thành sách. (Huxley 1954).
Sau đó, Huxley mô tả chi tiết về cách thực hành rất đặc biệt của ông. Phương thức này là có thể được tạm gọi là kỹ thuật “tư duy sâu” (Deep Reflection), tuy nhiên Huxley vẫn muốn tìm một thuật ngữ khác hay hơn và ít “ô dề” hơn cho nó. Ông mô tả “tư duy sâu” là trạng thái được thể hiện ở sự thư giãn về mặt thể chất với đầu cúi xuống và mắt nhắm, một trạng thái rút lui về mặt tinh thần khỏi tất cả các tác lực ngoại lai nhưng lại vẫn có thể duy trì sự tồn tại và cũng không bị mất trí nhớ hay mất định hướng, trạng thái “gác lại” mọi thứ không liên quan, chỉ tập trung vào những thứ mà người đó quan tâm. Tuy nhiên, trong trạng thái hoàn toàn rút lui về mặt tinh thần đó, Huxley tuyên bố rằng ông vẫn có thể tự do lấy một cây bút chì mới để thay thế cho cây bút cũ đã cùn để “tự động” ghi chú lại các suy nghĩ của ông và làm tất cả những điều này mà không cần phải nhận thức về các hoạt động thể chất mà ông đã thực hiện. Như thể các hoạt động thể chất này hoàn toàn “không phải là một phần không thể thiếu trong tư duy của tôi.” Các hoạt động thể chất như vậy dường như không chạm tới, làm chậm hay gây cản trở tới “dòng suy nghĩ chiếm trọn mối quan tâm của tôi. Nó có liên quan nhưng hoàn toàn là hoạt động ngoại vi… Có thể nói rằng hoạt động này hầu như không tiếp giáp với hệ thần kinh ngoại biên.” Để minh hoạ thêm, Huxley nhắc đến một ví dụ về một loại hoạt động thể chất khác. Ông nhớ lại, một lần mình ở trong trạng thái “tư duy sâu” lúc vợ ông đang đi mua sắm. Ông không nhớ mình đã nghĩ về điều gì lúc đó nhưng ông nhớ là khi vợ ông trở về, bà hỏi ông là ông đã ghi lại tin nhắn đặc biệt mà bà đã nói với ông qua điện thoại chưa. Ông đã khá bối rối trước câu hỏi đó của vợ mình, không thể nào nhớ được là mình đã nghe điện thoại như lời vợ ông khẳng định, nhưng cùng lúc đó hai vợ chồng ông tìm thấy một đoạn tin nhắn đặc biệt được ghi lại trên tập giấy đặt cạnh điện thoại. Cái điện thoại được đặt trong tầm với của cái ghế mà ông đã ngồi trong trạng thái Tư duy sâu. Cả ông và vợ đều đi đến kết luận rằng ông đã ở trong trạng thái Tư duy sâu lúc điện thoại kêu, và ông đã bắt máy và nói chuyện với bà như bình thường, “tôi nghe,” và ông cũng đã nghe lời nhắn của bà, ghi lại nó, mà không có bất cứ hồi ức nào về trải nghiệm đó. Ông chỉ nhớ rằng chiều đó ông đang thực hiện một bản thảo, và công việc đó đã hoàn toàn thu hút mọi sự quan tâm của ông. Ông giải thích rằng ông thường thường bắt đầu ngày làm việc của mình bằng cách bước vào trạng thái “tư duy sâu,” và nó đóng vai trò như một quá trình sơ bộ cho phép ông sắp xếp các suy nghĩ của mình và sắp xếp nó theo thứ tự tư duy mà theo đó ông sẽ viết chúng vào bản thảo ngày hôm đó.
Một ví dụ khác, Huxley kể rằng một ngày nọ khi vợ ông trở về nhà sau khi đi ra ngoài, bà thấy cửa vẫn đóng như bình thường, nhưng khi bước vào nhà thì bà lại thấy một lá thư trên cái bàn đặt ở hành lang, cái bàn này chuyên được dùng để thư từ, tin nhắn… được gửi tới. Bà thấy Huxley đang ngồi lặng lẽ trên chiếc ghế đặc biệt của mình, rõ ràng là đang ở trạng thái tư duy sâu. Cuối ngày hôm đó, bà hỏi người ta giao lá thư kia đến khi nào thì phát hiện ra ông không hề nhớ gì về việc nhận thư cả. Nhưng cả hai đều biết rằng người đưa thư đã phải đến và nhấn chuông cửa, làm gián đoạn bất cứ công việc gì mà Huxley đang làm, Huxley nghe tiếng chuông, đi ra mở cửa, nhận thư, đóng cửa và đặt nó ở trên bàn, sau đó quay trở lại ghế ngồi của ông.
Cả hai sự việc này xảy ra khá gần đây. Ông chỉ có thể nhớ được những gì mà vợ ông nói với ông chứ không nhớ được những thứ mà mình đã làm. Từ tất cả những thông tin mà ông có được thì ông chỉ có thể suy luận rằng có thể lúc hành động diễn ra ông đang ở trong trạng thái tư duy sâu.
Sau đó thì vợ ông xác nhận rằng giả thuyết rằng hành vi của ông hoàn toàn là “tự động, như một cái máy hoạt động một cách chính xác. Ông ấy có thể lấy một cuốn sách ra khỏi kệ, ngồi xuống, từ từ lật sách, với tay lấy kính, đọc một chút rồi lại đặt cuốn sách và cái kính sang một bên. Một thời gian sau, có thể là vài ngày, ông ấy nhận ra cuốn sách ở chỗ mình ngồi và hỏi tại sao nó lại ở đó. Ổng chẳng bao giờ nhớ mình làm gì và nghĩ gì khi ngồi trong cái ghế đó cả. Chỉ thấy là ông ấy ngồi đó và làm việc cực kỳ chăm chỉ.”
Nói cách khác, khi ở trong trạng thái tư duy sâu và có vẻ như hoàn toàn rút lui khỏi thực tế bên ngoài, thì tính toàn vẹn của các nhiệm vụ được thực hiện trong trạng thái tinh thần đó đã bị tác động bởi các kích thích bên ngoài, nhưng một số phần ngoại vi của nhận thức vẫn cho phép ông tiếp nhận được các kích thích bên ngoài này và phản ứng một cách chính xác với nó mà không cần phải lưu lại bất cứ ký ức nào về các kích thích đã tiếp nhận cũng như phương thức phản hồi. Các câu hỏi của vợ ông sau đó đã tiết lộ rằng khi bà ở nhà, nếu Aldous đang ở trong trạng thái tư duy sâu thì ông sẽ không hề chú ý đến điện thoại đang reo hay chuông cửa đang kêu dù các vật đó ở gần ông. “Ông ấy để tôi xử lý mọi thứ, nhưng khi tôi nói với ông rằng tôi sẽ ra ngoài thì ông ấy sẽ phản hồi khi nghe tiếng điện thoại hay tiếng chuông cửa.”
Huxley giải thích rằng ông tin mình có thể đạt đến một trạng thái tư duy sâu sắc trong vòng 5 phút nhưng khi làm như vậy tức là ông chỉ đơn thuần “nhổ neo” khỏi mọi loại nhận thức. Ông mô tả “đó hoàn toàn là một trải nghiệm chủ quan” trong đó ông đạt được trạng thái “trí óc được sắp xếp có trật tự” cho phép ông suy nghĩ một cách tự do hơn. Ông chưa bao giờ định nghĩa một cách chính xác thuật ngữ “tư duy sâu” của mình và cũng không có ý định đó, nhưng ông đã thực hiện một điều tra thử nghiệm. Có thể thấy rằng, khi ông bắt đầu tập trung để đạt được trạng thái tư duy sâu, ông thực sự “nhổ neo” và dường như cắt đứt liên kết với mọi thứ. Trong một nỗ lực trải nghiệm một cách chủ quan và ghi nhớ quá trình đạt được trạng thái tư duy sâu, ông đã phát triển trạng thái đó trong vòng 5 phút và thoát khỏi nó trong vòng 2 phút. Ông nhận xét: “Tôi phải nói là tôi vô cùng xin lỗi. Đột nhiên tôi thấy mình đã sẵn sàng để làm việc nhưng không có gì để làm và rồi tôi nhận ra là mình nên thoát ra khỏi trạng thái này.” Đó là tất cả những thông tin mà ông có thể cung cấp. Trong một lần khác, chúng tôi thoả thuận là tôi sẽ đưa ra hiệu lệnh báo cho ông ấy biết khi nào thì có thể “thoát khỏi nó.” Lần này mọi thứ cũng được thực hiện suôn sẻ như lần trước. Huxley ngồi yên trong vài phút và tôi ra tín hiệu cho ông. Theo lời kể của Huxley, “Tôi thấy mình đang ngồi chờ cái gì đó nhưng không biết nó là cái gì. Nó chỉ là “cái gì đó” mà tôi biết nó sẽ đến trong một khoảng vô tận không-thời gian. Tôi phải nói rằng đây là lần đầu tôi cảm thấy như vậy. Thường thì tôi luôn phải suy nghĩ về cái gì đó. Nhưng lần này có vẻ như tôi chẳng có việc gì để làm cả. Tôi hoàn toàn không quan tâm, thờ ơ, chỉ ngồi chờ một cái gì đó và rồi tôi thấy đã đến lúc cần thoát ra. Ông đã đưa ra hiệu lệnh có phải không?”
Thử nghiệm cho thấy rằng ông không hề có ý thức về việc hiệu lệnh được đưa ra. Ông ấy chỉ “cảm thấy” rằng đã đến lúc phải “thoát ra.”
Thử nghiệm này được lặp lại nhiều lần nữa và cho ra kết quả tương tự. Cảm giác vô tận không gian và thời gian, thoải mái và bình thản chờ đợi “một cái gì đó” không xác định và một nhu cầu quay lại với nhận thức… là những gì chúng ta biết được. Huxley tóm tắt những phát hiện của mình một cách ngắn gọn là “sự vắng mặt hoàn toàn của mọi thứ trên đường đạt tới trạng thái tư duy sâu và trên đường thoát ra khỏi trạng thái đó, cùng sự mong đợi một thứ gì đó và người ta chờ đợi nó trong trạng thái niết bàn vì không có gì khác để làm.” Ông khẳng định ý định thực hiện một nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp thực này, vốn là kỹ thuật ông thấy rất hữu ích cho công việc viết lách của mình.
Các thử nghiệm sâu hơn đã được thực hiện sau khi Huxley giải thích rằng ông có thể bước vào trạng thái tư duy sâu nhưng chưa xác định rằng ông sẽ phản ứng với bất kỳ “kích thích đáng kể nào.” Erickson cố tình không báo cho Huxley biết ý định của mình, yêu cầu Huxley “tỉnh dậy” khi nghe thấy tiếng bút chì gõ liên tiếp ba lần lên ghế. Huxley bước vào trạng thái tư duy sâu, sau khi chờ một lúc, Erickson gõ nhẹ lên bàn bằng một cây bút chì theo nhiều kiểu khác nhau một cách rõ rệt nhưng không đều nhau. Ông gõ một lần rồi tạm dừng, gõ hai lần nhanh và liên tục rồi tạm dừng, gõ một lần rồi tạm dừng, gõ nhanh 4 lần liên tục rồi tạm dừng, gõ 5 lần liên tục. Nhiều kiểu gõ khác nhau được thực hiện ngoại trừ tín hiệu gõ bút chì ba lần liên tiếp lên ghế như đã thoả thuận từ trước. Thậm chí Erickson còn làm đổ cả ghế nhưng Huxley vẫn không phản ứng. Mãi cho đến khi ông thực hiện tín hiệu đã thoả thuận từ trước thì Huxley mới bắt đầu phản ứng, từ từ tỉnh dậy. Ông phản ứng gần như ngay lập tức sau khi nghe thấy tín hiệu đúng.
Sau đó Huxley được hỏi về trải nghiệm chủ quan của ông. Ông nói rằng nó cũng giống như những thử nghiệm trước ngoại trừ việc rất nhiều lần ông có cảm giác rằng “cái gì đó đang đến,” nhưng ông biết đó không phải là cái mà ông đang chờ. Ông không hề nhận thức được thực tế đã diễn ra như thế nào.
Các thử nghiệm sâu hơn đã được thực hiện, ở đó Huxley được yêu cầu đi vào trạng thái tư duy sâu và cảm nhận màu sắc, tín hiệu được thoả thuận trước để báo hiệu cho ông biết đã đến lúc thức dậy là một cái bắt tay với bàn tay phải của ông. Ông làm theo và khi Erickson nhận thấy rằng Huxley đã hoàn toàn bước vào trạng thái tư duy sâu, ông bắt tay trái của Huxley thật mạnh, sau đó véo thật mạnh vào cả hai tay của ông và để lại vết móng tay sâu trên đó. Huxley không có phản ứng gì đối với các kích thích vật lý này cả. Chuyển động của tròng mắt bên dưới mí mắt đang nhắm cũng như nhịp thở và nhịp tim của ông đều được theo dõi để xem có bất cứ thay đổi nào không. Mặc dù vậy, sau khoảng chừng một phút, ông từ từ thu tay lại dọc theo tay ghế nơi ông đã đặt tay lên trước khi đi vào trạng thái tư duy sâu. Tay ông di chuyển một cách chậm chạp khoảng 2.5cm rồi sau đó mọi chuyển động đều dừng lại.
Ông thức dậy một cách dễ dàng và thoải mái khi Erickson bắt tay phải của ông.
Theo lời kể chủ quan của ông, chỉ đơn giản là ông đã “lạc” và một “biển màu sắc”; “cảm thấy”, “nhận thấy” rằng mình là màu sắc, trở nên “hoàn toàn đắm chìm vào đó mà không có chút ý niệm vào về bản thể và tồn tại cá nhân của mình”. Sau đó, ông đột nhiên trải qua một quá trình mất đi màu sắc đó vào trong một “khoảng không vô nghĩa”. Khi ông mở mắt ra thì ông nhận ra mình đã “thoát khỏi nó”.
Ông nhớ rằng mình đã đồng ý việc sử dụng tín hiệu bắt tay để làm tín hiệu thức dậy, nhưng không nhớ ra là mình đã làm như vậy khi nhận được tín hiệu bắt tay của Erickson. “Tôi chỉ có thể suy luận ra là Erickson đã bắt tay phải của tôi sau khi tôi ra khỏi trạng thái tư duy sâu,” và những câu hỏi gián tiếp của Erickson không tiết lộ bất cứ ký ức nào về các kích thích vật lý khác được thực hiện trong thời gian Huxley ở trong trạng thái tư duy sâu đó. Cũng không có bất cứ cái nhìn lơ đãng hay hành động xoa mu bàn tay nào.
Quy trình tương tự có liên quan đến màu sắc được lặp lại, nhưng nó được thêm vào một chút, sau khi Huxley dường như đang tiến đến trạng thái tư duy sâu, một sự thúc giục liên tục được lặp lại, khi tỉnh táo, ông thảo luận về một cuốn sách nhất định được đặt cẩn thận trong tầm nhìn. Kết quả tương đương với những phát hiện trước đó. Ông trở nên “lạc lõng”, “hoàn toàn đắm chìm vào nó”, “có thể cảm nhận được nó nhưng không thể mô tả nó”, “đó là một trạng thái hoàn toàn tuyệt vời, hấp dẫn khi bạn tìm được cho mình một phần dễ chịu của một khung cảnh đầy màu sắc trải dài bất tận, nó mềm mại và dịu dàng và dễ chịu và hấp thụ tất cả. Hết sức lạ thường, lạ thường bực nhất.” Ông hoàn toàn không nhớ gì về những lời Erickson đã nói hoặc những kích thích vật lý khác được tạo ra. Ông chỉ nhớ tín hiệu đánh thức mà hai người đã thoả thuận từ trước nhưng không biết chính xác thời điểm tín hiệu đó được đưa ra. Ông chỉ có thể lờ mờ đoán ra rằng mình đã nhận được tín hiệu đánh thức khi trở lại trạng thái nhận thức bình thường. Sự diện diện của cuốn sách không gây bất cứ ảnh hưởng gì đến ông cả. Một tuyên bố bổ sung là việc bước vào trạng thái tư duy sâu bằng cách đắm mình vào một không gian đầu màu sắc, theo một cách nào đó, có thể so sánh được nhưng không giống hệt với những trải nghiệm ảo giác của ông.
Trong lần thử nghiệm sau đó, Huxley được yêu câu đi vào trạng thái tư duy sâu để nhớ lại cuộc nói chuyện điện thoại và những sự việc có liên quan đến bức thư chuyển phát đặc biệt ở trên. Ông đã nhận xét rằng một dự án như vậy sẽ “khá hiệu quả”. Mặc dù đã nỗ lực nhiều lần, nhưng sau khi ra khỏi trạng thái tư duy sâu, ông chỉ có thể nói: “Ở đó tôi thấy mình chẳng có việc gì để làm nên tôi ra khỏi trạng thái tư duy sâu.” Ký ức của ông đã chỉ giới hạn trong những gì mà vợ ông đã kể với ông và tất cả những chi tiết đó đều liên quan đến bà chứ không có bất kỳ ký ức về trải nghiệm cá nhân của ông đối với các sự việc đó.
Một nỗ lực cuối cùng được thực hiện để khám phá xem liệu Huxley có thể đưa thêm một người khác vào trạng thái tư duy sâu của ông hay không. Ý tưởng này khiến ông thích thú ngay và ông cũng gợi ý là sẽ đi vào trạng thái tư duy sâu để xem xét lại các trải nghiệm sử dụng chất thức thần của mình. Ông làm việc này một cách rất tò mò. Khi đi vào trạng thái tư duy sâu, Huxley bắt đầu đưa ra những nhận xét rời rạc theo cách hoàn toàn tách biệt, chủ yếu là các bình luận về bản thân. Vì vậy, ông nói, cùng lúc thực hiện những ghi chép rời rạc bằng bút chì và giấy mà người ta đưa cho ông, “thật phi thường… tôi đã bỏ qua điều đó… như thế nào chứ… thật kỳ lạ, đáng lý tôi phải quên mất nó rồi (ghi chú lên giấy)… thật thú vị khi nó trông khác biệt như vậy… Tôi phải nhìn…”
Khi tỉnh lại, ông có một ký ức mơ hồ về việc đã xem lại một trải nghiệm chất thức thần nhưng những gì ông đã trải qua lúc thì ông không nhớ được. Ông cũng không nhớ mình đã nói to thành tiếng hay ghi chú lại. Khi Erickson cho ông xem những ghi chú mà ông đã thực hiện, ông thấy rằng nó đã được viết một cách rất cẩu thả đến mức không thể đọc ra được. Erickson đọc cho ông nghe những gì ông đã nói mà vẫn không gợi lại bất kỳ ký ức gì.
Khi lặp lại thí nghiệm này, hai người nhận được kết quả tương tự với một ngoại lệ. Mọi người đã rất ngạc nhiên khi Huxley bất ngờ tuyên bố, “Tôi nói nghe nè Milton, điều này hết sức đáng ngạc nhiên, tôi dùng trạng thái tư duy sâu để triệu hồi ký ức của mình, để sắp xếp lại mọi suy nghĩ của mình, để khám phá các phạm vi, mức độ tồn tại tinh thần của tôi, nhưng tôi làm điều đó chỉ để những nhận thức, suy nghĩ, hiểu biết, ký ức đó thấm vào công việc tôi đang định làm mà không nhận thức được một cách có ý thức về chúng. Thật hấp dẫn làm sao… tôi chưa bao giờ dừng lại để nhận ra rằng trạng thái tư duy sâu của mình luôn diễn ra trước khi tôi bắt đầu tập trung cao độ vào công việc mà tôi hoàn toàn đắm chìm vào đó… chẳng trách mà tôi bị mất trí nhớ.”
Sau này khi trao đổi sổ tay cho nhau, Huxley tỏ ra vô cùng kinh ngạc và bối rối trước những gì Erickson đã ghi lại về các kích thích vật lý mà ông đã thực hiện trong những lần Huxley đi vào trạng thái tư duy sâu mà ông không hề nhớ bất cứ điều gì. Ông biết rằng nhiều lần ông đã đi vào trạng thái tư duy sâu theo yêu cầu của Erickson, vừa vui mừng vừa kinh ngạc trước những cảm giác chủ quan của ông khi lạc vào một biển màu sắc nuốt trọn mình, đã cảm nhận sự biến mất của không gian và thời gian và đã trải nghiệm một cảm giác thoải mái khi một điều có ý nghĩa sắp xảy ra. Ông đọc lại sổ tay của Erickson nhiều lần trong một nỗ lực phát triển một loại cảm giác rằng ít ra thì mình cũng có chút ký ức mơ hồ về nhận thức chủ quan đối với các kích thích vật lý được tạo ra trong những lần mình đi vào trạng thái tư duy sâu. Ông cũng nhìn vào mu bàn tay của mình để xem xét các vết hằn nhưng chúng đã biến mất. Bình luận cuối cùng của ông là: “… phi thường, hết sức phi thường, vô cùng hấp dẫn.”
Khi cả hai người đồng ý rằng, ít nhất là trong thời gian này, việc tìm hiểu sâu hơn về trạng thái tư duy sâu có thể được hoãn lại một chút, Huxley tuyên bố một lần nữa rằng ông đột nhiên nhận ra mình đã sử dụng kỹ thuật này nhiều đến thế nào và việc ông biết quá ít về nó khiến ông quyết tâm tìm hiểu sâu hơn về trạng thái tư duy sâu của mình. Cách thức và phương tiện để giúp ông đi vào trạng thái tư duy sâu đó, cách nó cấu thành một hình thức chuẩn bị để ông đắm mình trong đó và bằng cách nào nó khiến ông ngắt kết nối với những yếu tố thực tế không cần thiết đều là những vấn đề mà ông rất quan tâm.
Sau đó thì Huxley đề xuất rằng nên tiến hành điều tra bằng cách thôi miên ông. Ông yêu cầu được phép ngắt quãng trạng thái bị thôi miên của mình theo ý muốn để thảo luận. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với mong muốn cá nhân của Erickson.
Huxley yêu cầu trước tiên phải tạo ra trạng thái bị thôi miên nhẹ, có thể lặp lại nhiều lần, để cho phép khám phá những trải nghiệm chủ quan của ông. Vì trước đây ông đã từng trải qua trạng thái mộng du, nên ông ấy đã cẩn thận để đảm bảo rằng thực tế này có thể giúp ông cảm thấy tự tin trong việc ngưng trạng thái bị thôi miên ở bất kỳ mức độ nào mà ông muốn. Ông không nhận ra đây là một gợi ý thôi miên trực tiếp đơn giản. Sau này khi đọc lại sổ tay của Erickson, ông đã rất ngạc nhiên rằng mình đã dễ dàng chấp nhận một gợi ý thôi miên hiển nhiên như thế mà không nhận ra bản chất của nó vào thời điểm đó.
Ông thấy rằng sự lặp lại của trạng thái bị thôi miên nhẹ là rất thú vị, nhưng “quá dễ để khái niệm hoá”. Ông giải thích rằng nó “đơn giản là một sự rút lui khỏi những quan tâm bên ngoài vào bên trong.” Có nghĩa là, người ta dành ít sự chú ý hơn đến những thứ bên ngoài và ngày càng chú ý nhiều hơn đến những cảm giác chủ quan bên trong. Các yếu tố bên ngoài trở nên ngày càng mờ nhạt và tối tăm hơn, các cảm xúc chủ quan bên trong ngày càng thỏa mãn hơn cho đến khi một trạng thái cân bằng xuất hiện. Trong trạng thái cân bằng này, ông có cảm giác rằng, với động lực, ông có thể “vươn ra và nắm bắt thực tại”, rằng có một sự duy trì chắc chắn về khả năng nắm bắt thực tại bên ngoài nhưng không có động lực để giải quyết nó. Ông cũng không cảm thấy có mong muốn đào sâu hơn vào trạng thái bị thôi miên. Không có sự thay đổi cụ thể nào trong trạng thái cân bằng này có vẻ cần thiết và ông lưu ý rằng một cảm giác mãn nguyện và thư giãn đi kèm với nó. Ông tự hỏi liệu những người khác có trải qua những phản ứng chủ quan tương tự hay không.
Huxley yêu cầu rằng trạng thái bị thôi miên nhẹ phải được tạo ra bằng nhiều kỹ thuật khác nhau, một số trong số đó phải bằng các phương thức không lời. Kết quả trong mỗi lần đó là Huxley cảm thấy một sự phụ thuộc hoàn toàn và mạnh mẽ vào trạng thái tinh thần của mình. Ông thấy rằng ông có thể chấp nhận “trôi dạt” vào trạng thái bị thôi miên nhẹ, tiếp nhận các gợi ý chủ yếu liên quan đến các phản ứng chỉ ở mức chủ quan. Ông nhận thấy rằng một nỗ lực hành xử theo mối quan hệ trực tiếp với môi trường vật lý đã làm ông tốn sức và khiến ông mong muốn tỉnh khỏi trạng thái bị thôi miên này hoặc tiến đến một trạng thái sâu hơn. Ông cũng chủ động tự mình đặt ra những vấn đề của riêng minh để kiểm tra trạng thái bị thôi miên của mình. Do đó, trước khi bước vào trạng thái bị thôi miên nhẹ, ông sẽ bí mật thực hiện thảo luận về một chủ đề nào đó, có liên quan hoặc không liên quan, với Erickson vào thời điểm sớm nhất có thể hay thậm chí trước thời điểm thôi miên khá xa. Trong những lần đó, Huxley thấy những ham muốn không được bày tỏ như vậy có hại cho việc duy trì trạng thái thôi miên. Tương tự như vậy, bất kỳ nỗ lực nào để đưa vào một đối tượng thực tế không liên quan đến cảm giác thỏa mãn chủ quan của ông đều làm giảm trạng thái bị thôi miên.
Luôn tồn tại một nhận thức “mờ nhạt nhưng sẵn sàng” rằng người ta có thể thay đổi trạng thái nhận thức theo ý muốn. Huxley, cũng như những người khác tham gia thực nghiệm, cảm thấy một mong muốn mãnh liệt trong việc khám phá cảm giác thoải mái và thỏa mãn chủ quan của mình nhưng ngay lập tức nhận ra rằng điều này sẽ dẫn đến một trạng thái bị thôi miên sâu hơn.
Khi Huxley được yêu cầu nêu ra những hiểu biết về các phương tiện mà ông có thể sử dụng để tránh việc rơi vào trạng thái bị thôi miên sâu hơn, ông tuyên bố rằng ông làm điều này bằng cách thiết lập một khoảng thời gian nhất định mà ông sẽ duy trì trạng thái bị thôi miên nhẹ. Điều này có tác dụng khiến ông nhận thức mạnh mẽ hơn rằng bất cứ lúc nào ông cũng có thể “vươn ra và nắm bắt thực tại bên ngoài” và cảm giác về sự thoải mái, dễ chịu chủ quan của ông giảm đi. Các cuộc thảo luận về chủ đề này cũng như các thử nghiệm lặp đi lặp lại cho thấy rằng những gợi ý được diễn đạt một cách cẩn thận có tác dụng nhấn mạnh sự tồn tại của thực tế bên ngoài và tăng cường cảm giác thoải mái chủ quan mặc dù Huxley hoàn toàn nhận thức được người ta nói gì với ông và tại sao. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận ở những đối tượng có trí thông minh cao khác.
Khi thử nghiệm với các trạng thái thôi miên sâu trung bình, Huxley, cũng như các đối tượng khác mà Erickson làm việc cùng, gặp nhiều khó khăn hơn trong việc phản ứng và duy trì một mức độ ổn định của trạng thái bị thôi miên. Ông nhận thấy rằng mình có một nhu cầu chủ quan trong việc tiến đến một trạng thái bị thôi miên sâu hơn và một nhu cầu trí tuệ muốn duy trì ở mức trung bình. Kết quả là ông thấy mình liên tục “tìm kiếm nhận thức” về môi trường xung quanh ông và điều này sẽ đưa ông lên trạng thái bị thôi miên nhẹ hơn. Sau đó ông sẽ điều hướng sự chú ý của mình đến sự thoải mái chủ quan và thấy bản thân mình bước vào một trạng thái bị thôi miên sâu hơn. Cuối cùng, sau nhiều thử nghiệm, ông đưa ra những gợi ý ở cả giai đoạn sau thôi miên và thôi miên trực tiếp để duy trì trạng thái bị thôi miên sâu trung bình. Ông thấy rằng mình có thể làm được điều này mà không cần quá lo lắng. Ông mô tả trạng thái thôi miên sâu trung bình chủ yếu đặc trưng bởi một cảm giác thoải mái chủ quan cực kỳ dễ chịu và một nhận thức mơ hồ sai lạc rằng có một thực tế bên ngoài mà ông cảm thấy cần phải có một động lực đáng kể để có thể kiểm tra nó. Mặc dù vậy, nếu ông cố gắng kiểm tra bất cứ đối tượng nào ở trong thực tế này để tìm giá trị nội tại của nó, trạng thái bị thôi miên sẽ lập tức trở nên nông hơn/nhẹ hơn. Mặt khác, khi ông kiểm tra một đối tượng của thực tế bên ngoài để tìm giá trị chủ quan, ví dụ như sự thoải mái mềm mại của đệm ghế sofa trái ngược với sự yên tĩnh vốn có của căn phòng, trạng thái thôi miên lại trở nên sâu hơn. Nhưng cả trạng thái bị thôi miên nhẹ và thôi miên sâu đều đặc trưng bởi nhu cầu cảm nhận thực tế bên ngoài theo một cách nào đó, không nhất thiết phải rõ ràng nhưng dù sao cũng duy trì một số nhận thức có thể nhận biết được.
Đối với cả hai mức độ trạng thái bị thôi miên, các thí nghiệm đã được tiến hành để khám phá những hiện tượng thôi miên nào có thể được tạo ra trong cả trạng thái bị thôi miên nhẹ lẫn trạng thái bị thôi miên sâu trung bình. Thí nghiệm tương tự đã được thực hiện với các đối tượng khác và cũng với các đối tượng liên tục chỉ phát triển một trạng thái bị thôi miên nhẹ và các đối tượng liên tục không thể tiến đến một trạng thái bị thôi miên sâu hơn mức trung bình. Trong tất cả các nghiên cứu như vậy, những phát hiện đều giống nhau, điều quan trong nhất có vẻ là nhu cầu duy trì một số hiểu biết tối thiểu về thực tế bên ngoài ở những đối tượng ở trạng thái bị thôi miên nhẹ và trung bình và để định hướng trạng thái bị thôi miên của họ như một trạng thái tách biệt với thực tế bên ngoài nhưng với sự định hướng đến thực tế đó, mặc dù có bản chất mong manh, việc có thể cảm nhận được sự tồn tại của thực tế bên ngoài được các đối tượng nắm bắt ngay lập tức.
Một điểm khác mà Huxley tự mình khám phá ra bằng nỗ lực của bản thân mà không nhờ đến sự hướng dẫn của Erickson và thậm chí Erickson cũng chưa hoàn toàn nhận thức được khi làm việc với các chủ thể đó, chính là việc trạng thái bị thôi miên sâu có thể được phát triển từ cả trạng thái bị thôi miên nhẹ lẫn trung bình. Huxley, sau khi quan sát trạng thái bị thôi miên sâu, đã tự hỏi về khả năng phát triển hiện tượng ảo giác trong trạng thái bị thôi miên nhẹ. Ông đã thử làm điều này bằng cách tận hưởng trạng thái chủ quan của mình về sự thoải mái về mặt vật chất và thêm vào đó một phẩm chất chủ quan khác, cụ thể là cảm giác dễ chịu của vị giác. Ông nhận thấy rằng rất dễ để có được các ảo giác sống động về nhiều vị khác nhau mà vị giác có thể cảm nhận được trong khi mơ hồ tự hỏi rằng Erickson sẽ nghĩ gì nếu biết được điều mà ông ấy đang làm. Ông không nhận ra rằng tần suất nuốt nước bọt của mình tăng lên khi làm như vậy. Từ các cảm giác ở vị giác, ông mở rộng ra ảo giác của khứu giác, cả dễ chịu lẫn khó chịu. Ông không nhận ra rằng ông đã để lộ hành vi của mình bằng cách nở lỗ mũi. Sau đó ông đã giải thích, suy nghĩ của ông lúc đó là ông có “cảm giác” rằng ảo giác về một “loại quy trình hoàn toàn ở bên trong”, tức là xảy ra bên trong chính cơ thể mình, sẽ dễ hơn so với những trường hợp mà ảo giác dường như xuất hiện bên ngoài cơ thể. Từ ảo giác của khứu giác, ông phát triển đến các cảm giác về chuyển động cơ thể, khả năng cảm nhận được vị trí, tư thế và chuyển động của cơ thể mình mà không cần nhìn thấy, khả năng cảm nhận được những kích thích chạm vào hoặc áp lực lên vùng da xung quanh hậu môn. Trong trải nghiệm ảo giác về chuyển động cơ thể, ông có ảo giác rằng mình đang đi bộ đường dài nhưng vẫn liên tục nhận thức rằng Erickson đang có mặt trong một căn phòng nào đó mà ông mơ hồ cảm nhận được. Trong chốc lát, ông ấy sẽ quên đi sự có mặt của Erickson và ảo giác rằng mình đang đi bộ của ông trở nên sống động nhất. Ông nhận ra rằng đây là một dấu hiệu của sự phát triển tạm thời của một trạng thái bị thôi miên sâu hơn mà ông cảm thấy có nghĩa vụ phải nhớ báo cáo với Erickson trong cuộc thảo luận giữa hai người sau khi tỉnh dậy. Ông không nhận thức được những thay đổi về hô hấp và mạch đập trong suốt cuộc đi bộ ảo của mình.
Khi lần đầu tiên thử ảo giác thị giác và thính giác, ông thấy chúng khó hơn nhiều và việc nỗ lực để tạo ra các ảo giác này có xu hướng làm nhẹ đi hoặc xoá bỏ trạng thái bị thôi miên của ông. Cuối cùng, ông lý luận rằng nếu ông có thể ảo giác về những chuyển động nhịp nhàng của cơ thể thì ông có thể “gắn” một ảo giác âm thanh vào ảo giác về cảm giác cơ thể. Biện pháp này tỏ ra hiệu quả nhất và một lần nữa ông bắt gặp mình đang tự hỏi liệu Erickson có cũng đang nghe thấy tiếng nhạc như ông hay không. Nhịp thở của ông thay đổi và Erickson cũng quan sát thấy những chuyển động nhẹ của đầu. Từ âm nhạc đơn giản, ông chuyển sang ảo giác hát opera và cuối cùng là chuyển sang lẩm bẩm những từ ngữ mà cuối cùng dường như trở thành giọng của Erickson hỏi ông về trạng thái tư duy sâu. Erickson cũng không thực sự hiểu là điều gì đang xảy ra nữa.
Từ đây, ông tiến tới ảo ảnh thị giác. Một nỗ lực mở mắt gần như đã đánh thức ông khỏi trạng thái bị thôi miên. Sau đó, ông nhắm mắt kể cả trong các hoạt động ở trạng thái bị thôi miên nhẹ lẫn trung bình. Ảo ảnh thị giác đầu tiên của ông là một cơn lũ sống động tràn ngập tâm trí với cảm giác mãnh liệt về các màu pastel với màu sắc thay đổi và chuyển động theo hình sóng. Ông liên hệ ảo giác này với ảo giác mà ông đã được trải nghiệm khi ở trong trạng thái tư duy sâu trước đây và những trải nghiệm thức thần của ông trước đó nữa. Ông không cho rằng trải nghiệm này cung cấp đủ giá trị cho mục đích của ông lúc đó vì ông cảm thấy rằng những ký ức sống động trong quá khứ của mình đang đóng vai trò quá lớn trong việc hình thành ảo giác này. Do đó, ông thận trọng quyết định hình dung một bông hoa nhưng rồi ông nghĩ rằng, vì cảm giác về chuyển động đã đóng góp để tạo ra ảo giác âm thanh, ông có thể áp dụng biện pháp tương tự để phát triển một ảo ảnh thị giác. Vào thời điểm đó, ông nhớ lại sau khi tỉnh dậy khỏi trạng thái bị thôi miên và khi đang thảo luận về trải nghiệm của mình, ông hỏi Erickson đã bao giờ tạo ra ảo giác trên đối tượng nghiên cứu bằng cách kết hợp nhiều trường cảm giác khác nhau của một trải nghiệm hay không. Erickson nói với ông rằng đó là một quy trình tiêu chuẩn đối với mình.
Ông phát triển ảo ảnh thị giác của mình bằng cách “cảm thấy” đầu mình quay từ bên này qua bên kia và lên xuống để theo dõi một vật thể chuyển động nhịp nhàng, khó thấy. Vật thể này nhanh chóng trở nên dễ nhìn thấy hơn cho đến khi ông nhận ra nó là một bông hoa hồng khổng lồ có đường kính 1m.
Đây là điều ông không ngờ tới và do đó ông chắc chắn ngay rằng ảo giác này không xuất phát từ ký ức của ông mà là một ảo giác thỏa điều kiện. Với nhận thức này, ông nhận ra rằng ông có thể thêm ảo giác về khứu giác vào để tạo cho nó một mùi ngọt ngào nồng nặc “không giống hoa hồng”. Nỗ lực này cũng rất thành công. Sau khi thử nghiệm với nhiều loại ảo giác khác nhau, Huxley tỉnh dậy khỏi trạng thái bị thôi miên và thảo luận về những gì ông đã đạt được. Ông rất hài lòng khi biết rằng những phát hiện thực nghiệm của mình có được mà không cần bất kỳ sự hướng dẫn hay gợi ý nào từ Erickson mà vẫn phù hợp với những phát hiện thực nghiệm đã được lên kế hoạch với các đối tượng khác.
Cuộc thảo luận này đặt ra nhiều câu hỏi về trạng thái mất cảm giác (anesthesia), chứng mất trí nhớ (amnesia), phân ly (dissociation – một trạng thái tâm lý mà trong đó một cá nhân cảm thấy tách rời khỏi bản thân, suy nghĩ, cảm xúc hoặc các giác quan của mình), mất cảm giác bản thân (depersonalization – trạng thái mà một người cảm thấy tách rời khỏi bản thân mình, như thể đang quan sát cuộc sống của mình từ bên ngoài), thoái lui (regression), trầm cảm thời gian (time distortion – cảm giác chủ quan về thời gian, nơi mà thời gian có thể cảm thấy trôi qua nhanh hơn, chậm hơn hoặc thậm chí là dừng lại), chứng hay quên (hypermnesia – cái này khó mà kiểm tra được với Huxley vì ông có một trí nhớ phi thường) và việc khám phá các sự kiện bị kìm nén trong quá khứ.
Huxley phát hiện ra rằng trạng thái mất cảm giác, chứng mất trí nhớ, trầm cảm thời gian và chứng hay quên có thể xảy ra trong trạng thái bị thôi miên nhẹ. Các hiện tượng khác có lợi cho sự phát triển của một trạng thái bị thôi miên sâu hơn với bất kỳ nỗ lực nghiêm túc nào để đạt được chúng.
Trạng thái mất cảm giác mà ông phát triển khi ở trong trạng thái bị thôi miên nhẹ có hiệu quả nhất đối với một số bộ phận được chọn trên cơ thể. Khi tạo ra ảo giác về sự mất cảm giác từ cổ trở xuống, Huxley thấy mình “trượt” vào trạng thái bị thôi miên sâu.
Chứng mất trí nhớ, cũng như trạng thái mất cảm giác, có hiệu quả khi nó có tính chọn lọc. Bất kỳ nỗ lực nào trong việc thiết lập ảo giác về chứng mất trí nhớ hoàn toàn đều dẫn đến sự tiến triển sang trạng thái bị thôi miên sâu.
Ảo giác về sự thay đổi của thời gian có thể dễ dàng tạo ra được và Huxley tuyên bố rằng ông không chắc chắn nhưng ông tin rằng mình đã sử dụng ảo giác về sự thay đổi của thời gian trong trạng thái tư duy sâu từ lâu, mặc dù lần đầu tiên ông chính thức tiếp cận khái niệm này là thông qua Erickson.
Chứng hay quên thì khá là khó để thử nghiệm vì khả năng ghi nhớ các sự kiện trong quá khứ của Huxley là rất tốt, họ đã cố gắng thực hiện thử nghiệm này theo gợi ý của Erickson bằng cách đặt câu hỏi cho Huxley khi ông ở trong trạng thái bị thôi miên nhẹ, yêu cầu ông nói tên số trang của các đoạn văn lấy từ nhiều cuốn sách khác nhau của ông. Ngay khi nhận được yêu cầu đầu tiên, Huxley tỉnh dậy từ trạng thái bị thôi miên nhẹ và giải thích: Milton ạ, thật sự thì bây giờ tôi không thể làm được điều này đâu. Tôi có thể trích dẫn lại hầu hết các đoạn trong cuốn sách đó, nhưng đoạn đó nằm trong trang nào thì không thể nào nhớ chính xác được.” Tuy nhiên, sau khi quay trở lại trạng thái bị thôi miên nhẹ, tên của tập sách được đưa ra, một vài dòng của một đoạn được đọc to lên cho ông nghê, sau đó thì ông đã có thể đưa ra được số trang chứa đoạn văn đó. Ông đã thành công đưa ra đáp án đúng cho hơn 65% số lần được hỏi một cách hết sức nhanh chóng. Khi tỉnh dậy từ trạng thái bị thôi miên nhẹ, ông được hướng dẫn duy trì trạng thái nhận thức tỉnh táo và thực hiện nhiệm vụ tương đương. Trước sự ngạc nhiên vô cùng của mình, ông nhận thấy rằng khi ở trong trạng thái bị thôi miên nhẹ, số trang “nháy” lên trong tâm trí ông, còn khi ở trong trạng thái nhận thức tỉnh táo thì ông phải tuân theo một quy trình có phương pháp đó là hình dung lại đoạn văn đó trong đầu, nhớ lại đoạn tiếp theo và quay lại đoạn trước đó, sau đó “đoán” xem đoạn đó nằm trong trang nào. Khi bị giới hạn trong cùng một khoảng thời gian mà ông đã sử dụng khi ở trong trạng thái bị thôi miên nhẹ, ông không đưa ra đáp án chính xác nào. Khi được cho phép dành bao nhiêu thời gian suy nghĩ tuỳ thích để đưa ra câu trả lời, ông trả lời đúng khoảng 40%, nhưng chỉ với những cuốn sách mà ông mới đọc gần đây.
Sau đó, Huxley tiến hành thử nghiệm tương tự trong trạng thái bị thôi miên sâu trung bình. Ông hoàn thành nhiệm vụ tương tự một cách dễ dàng hơn rất nhiều nhưng liên tục trải qua cảm giác bị “trượt” vào trạng thái bị thôi miên sâu hơn.
Huxley và Erickson đã thảo luận về hành vi thôi miên này của ông trong một thời gian khá dài, trong đó Huxley là người thực hiện hầu hết các ghi chép và chỉ có ống ấy mới có thể ghi lại trải nghiệm chủ quan của riêng mình liên quan đến các chủ đề được thảo luận. Do đó, những điều được trình bày trong tài liệu này bị hạn chế (do nó chủ yếu đến từ các ghi chép của Milton Erickson).
Sau đó hai người quay lại với các câu hỏi về trạng thái thôi miên sau, Huxley đã dễ dàng phát triển một trạng thái mộng du sâu nơi ông hoàn toàn mất phương hướng về không gian và thời gian một cách tự phát. Ông có thể mở mắt ra nhưng theo những gì ông mô tả thì những thứ mà ông nhìn thấy giống như một giếng ánh sáng, bao gồm cả Erickson trong đó, cái ghế mà Erickson ngồi, bản thân Huxley và cái ghế của ông nữa. Ông nhận xét ngay lập tức về sự hạn chế mang tính tự phát đáng chú ý của thị lực, và tiết lộ một nhận thức rằng, vì lý do nào đó mà ông không biết, ông phải có nghĩa vụ “giải thích mọi thứ” với Erickson. Khi hỏi cặn kẽ hơn, Erickson nhận thấy ông bị mất trí nhớ về những thứ xảy ra trước đó, ông cũng không nhận thức được những gì ông và Erickson đã làm. Cảm giác của ông về nghĩa vụ phải giải thích mọi thứ đã trở thành một sự sẵn lòng bình thường ngay khi ông nói ra. Một trong những tuyên bố đầu tiên của ông là: “Anh biết đấy, tôi thực sự không hiểu tình trạng hiện tại của tôi hay tại sao anh lại ở đây, hay ở bất kỳ nơi nào khác, nhưng tôi phải giải thích mọi thứ với anh”. Ông tin chắc rằng Erickson biết chuyện gì đang xảy ra và ông quan tâm đến việc lắng nghe lời giải thích từ Huxley và nói rằng Erickson có thể hỏi mình thêm nếu muốn. Ông thừa nhận một cách hững hờ, vô tư, nhưng rõ ràng là ông đang tận hưởng trạng thái thoải mái về mặt thể chất theo một cách thụ động và mãn nguyện.
Ông trả lời các câu hỏi một cách đơn giản và ngắn gọn, đưa ra các câu trả lời theo đúng nghĩa đen và chính xác, không ít hơn cũng không nhiều hơn những gì mà câu hỏi đặt ra. Nói cách khách, ông thể hiện sự chính xác theo như nghĩa đen của câu từ, tương tự như ở các đối tượng khác, có lẽ độ chính xác cao hơn một chút vì kiến thức của ông về ngữ nghĩa của từ.
Khi Erickson hỏi: “Ở bên phải tôi có cái gì?”
Câu trả lời của Huxley khá đơn giản: “Tôi không biết”
Erickson: “Tại sao?”
Huxley: “Tôi không nhìn (vào hướng đó)”
Erickson: “Anh sẽ nhìn về phía bên đó chứ?”
Huxley: “Được”
Erickson: “Nhìn bây giờ đi.”
Huxley: “Anh muốn tôi nhìn bao xa?”
Đây không phải là một yêu cầu bất ngờ bởi Erickson đã nhận được câu hỏi tương tự từ các đối tượng nghiên cứu khác. Huxley chỉ đơn giản đang thể hiện một biểu hiện đặc trưng của trạng thái thôi miên mộng du sâu (somnambulistic trance – trạng thái mà người đó đang trong trạng thái thôi miên, nhưng lại thực hiện các hành động như thể họ đang tỉnh táo) trong đó nhận thức thị giác bị hạn chế theo một cách không thể giải thích được đối với những vật dụng có liên quan đến tình huống thôi miên. Đối với mỗi cái ghế, sofa, ghế đôn… mà Erickson muốn Huxley nhìn thấy thì ông đều phải thực hiện các hướng dẫn đặc biệt. Như Huxley có giải thích sau này: “Tôi phải nhìn xung quanh cho đến khi dần dần nó (vật thể được chỉ định) từ từ xuất hiện trong tầm nhìn, không phải cùng một lúc mà từ từ chậm rãi như thể nó đang được hiện ra. Tôi thực sự tin rằng tôi cảm thấy hoàn toàn thoải mái mà không hề có chút ngạc nhiên nào khi tôi thấy mọi thứ từ từ hiện ra. Tôi chấp nhận mọi thứ như một lẽ tất nhiên.” Hàng trăm đối tượng nghiên cứu khác cũng đưa ra các giải thích tương tự. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của mình, Erickson nhận thấy tầm quan trọng của việc duy trì vai trò của một người hỏi hoàn toàn thụ động, người đặt câu hỏi chỉ để nhận được câu trả lời bất kể nội dung của nó. Ngữ điệu của người trả lời khi trả lời câu hỏi của họ có thể chỉ ra liệu đối tượng nghiên cứu đã được hướng dẫn trước về cách đưa ra câu trả lời hay chưa. Trong công việc trị liệu, Erickson cũng sử dụng ngữ điệu để tác động và điều chỉnh các phản ứng cá nhân của bệnh nhân theo hướng tích cực hơn.
Với Huxley, Erickson đã kiểm tra bằng cách nhiệt tình hỏi rằng “Bây giờ nói cho tôi nghe nhé, ở phía trước anh khoảng 5m là cái gì vậy?” Câu trả lời đúng phải là “Một cái bàn”. Tuy nhiên câu trả lời nhận được lại là, “Một cái bàn với sách và bình hoa ở trên”. Sách và bình hoa đều ở trên bàn nhưng mà là ở đầu kia của cái bàn, do đó nó cách Huxley xa hơn 5m. Sau đó thì Erickson hỏi một câu tương tự nhưng với giọng điệu thờ ơ hơn “Bây giờ hãy nói cho tôi biết phía trước anh 5m là cái gì?”
Ông trả lời “Một cái bàn”.
Erickson hỏi: “Còn gì không”
Huxley: “Còn”
Erickson: “Còn gì?”
Huxley: “Một cuốn sách” (Cuốn sách nằm gần ông ấy hơn so với cái bình)
Erickson: “Còn gì không?”
Huxley: “Còn”
Erickson: “Nói tôi nghe”
Huxley: “Một cái bình”
Erickson: “Còn gì không?”
Huxley: “Còn”
Erickson: “Nói tôi nghe”
Huxley: “Một đốm đen”
Erickson: “Còn gì không?”
Huxley: “Không”
Tính chính xác này và sự hạn chế đặc biệt của nhận thức đối với các vật thể trong thực tế cấu thành nên tình huống thôi miên chính xác này chính là một trạng thái thôi miên mộng du đúng chuẩn. Cùng với những hạn chế về thị giác còn có những hạn chế về thính giác với đặc điểm là âm thanh, ngay cả âm thanh phát ra giữa người thôi miên và đối tượng bị thôi miên, có vẻ như hoàn toàn nằm ngoài tình huống thôi miên. Vì không có trợ lý nào có mặt nên hai người không thể kiểm tra được hạn chế về mặt thính giác này. Mặc dù vậy, bằng một sợi chỉ đen không nhìn thấy được bằng mắt thường, một cuốn sách đã bị xô đổ xuống từ trên chiếc bàn sau lưng Huxley. Chậm rãi, như thể ông đang trải qua một cơn ngứa ngáy, Huxley giơ tay lên và gãi vai. Không có phản ứng giật mình. Điều này cũng là đặc tính của phản ứng xuất hiện trước nhiều kích thích vật lý bất ngờ. Chúng được diễn giải theo kinh nghiệm của cơ thể trong quá khứ. Thường thì nó là một phần của việc phát triển một trạng thái thôi miên mộng du sâu, các đối tượng nghiên cứu sẽ đồng thời phát triển một tình trạng mất cảm giác có chọn lọc đối với các kích thích vật lý không phải là một phần của tình huống thôi miên, đặc biệt là các kích thích vật lý không cho phép diễn giải theo kinh nghiệm trong quá khứ. Điều này không thể được thử nghiệm trong tình huống với Huxley vì cần có trợ lý để thực hiện các thử nghiệm đầy đủ mà không làm biến dạng tình huống thôi miên. Một biện pháp mang tính minh hoạ mà Erickson đã sử dụng là luồn một cây kim có xỏ chỉ qua tay áo khoác và sau đó nhờ một trợ lý giấu đầu kia của sợi chỉ ở một nơi khác. Thường thì trạng thái mất cảm giác tự phát sẽ làm cho đối tượng không nhận thức được kích thích. Các biện pháp đơn giản khác dễ dàng được đưa ra.
Sau đó, Huxley nhẹ nhàng tỉnh dậy một cách gián tiếp khỏi trạng thái bị thôi miên bằng một gợi ý đơn giản rằng ông nên điều chỉnh tư thế ngồi của mình trên ghế để trở lại chính xác trạng thái thể chất và tinh thần mà ông đã có khi quyết định ngưng mọi nghiên cứu thử nghiệm về tư duy sâu cho đến sau này.
Huxley phản ứng bằng cách ngay lập tức tỉnh dậy và ông nhanh chóng tuyên bố rằng ông đã sẵn sàng để bước vào trạng thái thôi miên sâu. Trong khi tuyên bố này tự nó chỉ ra rằng ông đã mắc chứng mất trí nhớ sâu sắc sau khi thôi miên, các chiến thuật trì hoãn đã được sử dụng dưới hình thức thảo luận về những gì có thể được thực hiện. Bằng cách này, có thể đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau trong hành vi của ông khi bị thôi miên sâu. Việc đề cập đến những điều này không gợi lên ký ức nào và cuộc thảo luận của Huxley về các điểm nêu ra không cho thấy sự che giấu nào nào xuất phát từ hành vi thôi miên sâu của ông. Ông vẫn không biết gì về các chi tiết liên quan đến hành vi thôi miên sâu của mình trước khi đi vào trạng thái thôi miên sâu.
Huxley tiếp tục thử nghiệm thôi miên sâu hơn, trong đó, tránh mọi ảnh hưởng mang tính cá nhân, ông được yêu cầu phát triển các chứng mất trí nhớ một phần, có chọn lọc và toàn bộ sau thôi miên (một phần có nghĩa là số trải nghiệm trong toàn bộ trải nghiệm, mất trí nhớ có chọn lọc là loại bỏ một số trải nghiệm được chọn hoặc những thứ không liên quan đến trải nghiệm), sự hồi phục của những ký ức đã bị mất đi và việc mất đi các ký ức đã được khôi phục. Ông cũng phát triển chứng giữ nguyên thế (catalepsy) được thử nghiệm bằng cách “sắp xếp” ông một cách thoải mái vào một cái ghế bành và sau đó tạo một tình huống cấu thành một mệnh lệnh trực tiếp yêu cầu ông đứng dậy khỏi ghế (“lấy cuốn sách ở trên bàn bên phải và đặt nó lên trên cái bàn bên trái và làm ngay”). Bằng cách này, dù không thể giải được, Huxley thấy mình không thể đứng dậy khỏi ghế và không thể hiểu tại sao lại như vậy. [Sự “sắp xếp thoải mái” của cơ thể đã dẫn đến một tư thế phải được điều chỉnh trước khi ông có thể đứng dậy khỏi ghế và không có gợi ý nào ngụ ý về việc ông phải thực hiện điều chỉnh như vậy được đưa ra trong câu lệnh hướng dẫn. Do đó, ông ấy tiếp tục ngồi đó một cách bất lực trên ghế, không thể nào đứng dậy được, cũng không hiểu tại sao. Biện pháp tương tự như vậy cũng đã được sử dụng để giới thiệu về gây tê cục bộ ở vùng dưới thắt lưng (saddle block anesthesia) cho các nhóm y bác sĩ. Đối tượng ở trong trạng thái bị thôi miên sâu được cẩn thận đặt vào vị trí, sau đó thực hiện một cuộc trò chuyện bình thường, đối tượng sau đó được sắp xếp để giao tiếp với một đối tượng khác, người này được yêu cầu đổi chỗ với đối tượng thứ nhất. Đối tượng thứ hai bước tới và đứng đó một cách bất lực trong khi đối tượng thứ nhất phát hiện ra rằng mình không thể cử động được và việc mất khả năng đứng trong thời gian ngắn dẫn đến tình trạng mất phương hướng ở phần dưới cơ thể và dẫn đến mất cảm giác toàn thân mà người thôi miên không cần phải đề cập đến việc mất cảm giác toàn thân trong phần thảo luận sơ bộ về nội dung của cuộc thôi miên trước đó. Việc sử dụng chứng giữ nguyên thế mà đối tượng không nhận ra này là biện pháp hiệu quả nhất để đưa đối tượng lên trạng thái bị thôi miên sâu hơn.
Huxley đã rất ngạc nhiên về việc mất khả năng vận động của mình và còn ngạc nhiên hơn nữa khi ông phát hiện ra mình cũng mất khả năng định hướng ở phần dưới cơ thể và ngạc nhiên nhất chính là khi Erickson chỉ cho ông thấy về sự xuất hiện của trạng thái mất cảm giác sâu sắc. Ông khá là bối rối và tỏ ra không hiểu được toàn bộ chuỗi sự kiện này. Ông không nhận ra được sự liên quan ở tư thế ngồi thoải mái của mình và chứng giữ nguyên thế cùng với trạng thái mất cảm giác sau đó.
Ông được đánh thức khỏi trạng thái bị thôi miên với chứng giữ nguyên thế và chứng mất cảm giác vẫn được duy trì, và hoàn toàn không nhớ gì về các trải nghiệm trong trạng thái bị thôi miên sâu. Ông tự ý mở rộng hướng dẫn tính đến trải nghiệm ở tất cả mức độ thôi miên, có thể là vì ông không nghe thấy những hướng dẫn của tôi một cách rõ ràng. Ngay lập tức, ông định hướng trở lại thời điểm hai người thực hiện các nghiên cứu về trạng thái tư duy sâu. Ông đã rất bối rối khi giải thích về trạng thái bất động của mình, và ông thể hiện sự tò mò của mình về những gì ông đã làm trong trạng thái tư duy sâu, mà ông cho rằng mình đã bước vào, và điều gì đã dẫn đến những biểu hiện không thể giải thích được như vậy lần đầu tiên trong tất cả những trải nghiệm của ông. Ông trở nên rất thích thú, liên tục lẩm bẩm những bình luận như “Thật phi thường” trong khi ông lấy tay sờ và nhìn vào phần dưới cơ thể mình. Ông nhận thấy rằng ông chỉ có thể xác định được vị trí của bàn chân bằng mắt, rằng có một sự bất động sâu sắc từ thắt lưng trở xuống, và ông khám phá ra rằng chứng mất cảm giác thực sự tồn tại khi ông cố gắng trong vô vọng để di chuyển chân mình bằng tay với chứng giữ nguyên thế. Ông ấy đã thử nghiệm theo nhiều cách khác nhau, yêu cầu Erickson đưa cho ông ấy nhiều công cụ hỗ trợ khác nhau để thử. Ví dụ, ông ấy yêu cầu Erickson chườm đá vào mắt cá chân của ông vì ông không thể cúi người xuống đủ tầm để tự làm việc đó. Cuối cùng, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, ông quay sang Erickson và nhận xét: “Này, anh có vẻ thoải mái vô tư quá nhỉ, trong khi tôi đang ở trong tình trạng vô cùng khó khăn. Tôi đoán rằng theo một cách tinh tế nào đó anh đã làm sao lãng và làm xáo trộn cảm giác nhận thức cơ thể của tôi đúng không? Trạng thái này có giống thôi miên không?”
Việc phục hồi trí nhớ khiến ông vui mừng, nhưng ông vẫn hoàn toàn không biết gì về nguồn gốc của chứng giữ nguyên thế và chứng mất cảm giác cơ thể. Mặc dù vậy, ông nhận ra rằng một số kỹ thuật giao tiếp đã được sử dụng để tạo ra kết quả đạt được nhưng ông không thành công trong việc liên kết tư thế ngồi của mình với kết quả cuối cùng.
Các thí nghiệm tiếp theo trong trạng thái bị hôn mê sâu nghiên cứu về ảo ảnh thị giác, thính giác và các loại ảo giác ý thức khác. Một trong những biện pháp được sử dụng là giả vờ nghe thấy tiếng mở cửa và sao đó giả vờ thấy ai đó bước vào phòng, đứng dậy một cách lịch sự và chỉ vào một chiếc ghế, sau đó quay sang Huxley hỏi rằng ông cảm thấy thoải mái không. Ông trả lời là có và ông thể hiện sự ngạc nhiên trước sự trở lại bất ngờ của vợ ông vì ông nghĩ bà sẽ vắng nhà suốt cả ngày. (Chiếc ghế mà Erickson chỉ vào là chiếc ghế mà bình thường vợ của Huxley hay ngồi). Ông trò chuyện với bà ấy và dường như trả lời bằng ảo giác. Ông đã khựng lại khi Erickson hỏi là làm thế nào mà ông biết đó là vợ ông chứ không phải một ảo giác thôi miên. Ông xem xét câu hỏi một cách kỹ lưỡng, sau đó giải thích rằng Erickson đã không đưa ra cho ông bất kỳ gợi ý nào để hình dung ra ảo giác về vợ mình, rằng Erickson đã ngạc nhiên về sự xuất hiện của bà như ông vậy, và rằng bà đã ăn mặc hệt như lúc bà ra khỏi nhà. Do đó, có lý khi cho rằng bà thực sự ở đó. Sau một thoáng suy tư, ông quay lại “cuộc trò chuyện” với bà dường như vẫn tự tạo ảo giác về các câu trả lời của vợ mình. Cuối cùng, Erickson thu hút sự chú ý của ông và làm một cử chỉ tay gợi ý về sự biến mất của chiếc ghế mà ở đó ông “nhìn thấy” vợ mình. Ông hoàn toàn kinh ngạc khi thấy bà ấy từ từ tan biến. Sau đó ông quay qua Erickson và yêu cầu đánh thức ông với đầy đủ ký ức về trải nghiệm này. Erickson đã làm như vậy và ông ấy đã thảo luận khá dài về trải nghiệm này, ghi chú rất nhiều vào sổ tay của mình, giải thích chúng với những câu trả lời cho những câu hỏi mà ông hỏi Erickson. Ông ấy đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng khi Erickson yêu cầu ông tỉnh lại trong tình trạng bất động và mất cảm giác, ông nghĩ rằng ông đã tỉnh dậy nhưng đối với ông trạng thái bị thôi miên vẫn tiếp diễn dù không thể nhận ra.
Sau đó thì Huxley thúc đẩy việc nghiên cứu sâu hơn về các trải nghiệm ảo giác trong thôi miên và nhiều loại đã được khám phá ta (bao gồm các ảo ảnh thị giác tích cực và tiêu cực, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác, vận động, nhiệt độ, cảm giác đói, no, mệt mỏi, yếu ớt, kỳ vọng, phấn khích sâu sắc…) Ông tỏ ra thành thạo trong mọi khía cạnh và người ta nhận thấy rằng nhịp tim của ông có thể thay đổi tới hai mươi điểm khi ông được yêu cầu ảo giác về trải nghiệm leo núi trong trạng thái cực kỳ mệt mỏi và lo âu. Ông tình nguyện tham gia vào các thảo luận về những trải nghiệm đa dạng này, cho biết rằng, có thể dễ dàng đạt được các ảo giác tiêu cực khi ở trong trạng thái bị thôi miên sâu nhưng điều này lại khó có thể thực hiện được trong trạng thái bị thôi miên nhẹ bởi vì các ảo giác tiêu cực làm phá hoại các giá trị thực tại, ngay cả khi ở trong trạng thái bị thôi miên. Nghĩa là, với các ảo giác tiêu cực được tạo ra, ông thấy rằng hình ảnh của Erickson bị mờ đi mặc dù ông có thể phát triển đến trạng thái bị thôi miên sâu với một ảo giác tiêu cực vốn có trong trạng thái bị thôi miên sâu đó đối với mọi thực tại bên ngoài ngoại trừ thực tại của tình huống thôi miên vốn sẽ vẫn rõ ràng và xác định rõ trừ phi có những gợi ý ngược lại. Thử nghiệm tiếp theo với các đối tượng khác đã xác nhận phát hiện này của Huxley. Trước đây, Erickson chưa từng khám phá vấn đề ảo giác tiêu cực này trong trạng thái bị thôi miên nhẹ và trung bình.
Lúc này, Huxley nhớ lại thử nghiệm nhận dạng số trang của đoạn văn bất kỳ trong những cuốn sách của ông ở trạng thái bị thôi miên nhẹ khi tiến hành nghiên cứu về chứng hay quên và ông yêu cầu được thực hiện các thử nghiệm tương tự trong trạng thái bị thôi miên sâu. Ông và Erickson cùng nhau xem xét các cuốn sách trên kệ để chọn ra một số cuốn mà Huxley chắc chắn rằng mình đã đọc rồi nhưng ông đã không động đến chúng trong nhiều năm. (Có vẻ như một cuốn trong số đó ông chưa bao giờ đọc, còn 5 cuốn kia thì đã đọc rồi.)
Ở trong trạng thái bị thôi miên sâu với đôi mắt nhắm nghiền, Huxley lắng nghe một cách chăm chú, khi Erickson mở một cuốn sách bất kỳ và đọc một vài dòng từ một đoạn được chọn. Đối với một số đoạn, ông xác định được số trang gần như ngay lập tức và sau đó ông sẽ ảo giác về trang đó, và “đọc” nó từ điểm mà Erickson đã dừng lại. Ngoài ra, ông còn xác định được thời điểm mà ông đã đọc cuốn sách đó. Hai cuốn trong số đó ông nhớ là đã đọc khoảng 15 năm về trước. Hai cuốn khác thì ông không thể xác định đúng số trang mà chỉ ước chừng, ông không thể có ảo giác về từng trang sách và chỉ có thể tổng hợp đại khái nội dung; nhưng về bản chất thì nội dung đó đúng, ông cũng không nhớ chính xác thời điểm đọc nó nhưng chắc chắn rằng ông đã đọc nó đâu đó khoảng hơn 25 năm về trước.
Trong cuộc thảo luận sau thôi miên, Huxley đã rất ngạc nhiên về màn trình diễn của mình, cho rằng đó là một kỳ tích về trí nhớ nhưng ông nhận xét rằng trải nghiệm này về cơ bản chỉ mang tính trí tuệ với trí nhớ được phục hồi nhưng không gợi ra bất cứ cảm xúc nào với tư cách là một con người. Điều này dẫn đến một cuộc thảo luận chung về thôi miên và trạng thái tư duy sâu với cảm giác chung về sự không thoả đáng về phía của Huxley liên quan đến việc khái niệm hoá đúng đắn các trải nghiệm của ông để so sánh giá trị giữa chúng. Dù Huxley rất vui với những trải nghiệm thôi miên của mình vì sự thú vị của chúng cũng như những hiểu biết mới mà chúng mang lại cho ông, nhưng ông cũng cảm thấy có phần bối rối. Ông cảm thấy rừng, như một trải nghiệm hoàn toàn cá nhân, ông đã rút ra một số giá trị không xác định mang tính chủ quan từ trạng thái tư duy sâu mà không thể có được khi bị thôi miên, vốn chỉ cung cấp một lượng lớn các điểm nhìn mới. Ông tuyên bố rằng trạng thái tư duy sâu đã mang lại cho ông một số cảm giác nội tâm bền vững nhất định vốn có vẻ như đóng một vai trò quan trọng trong cách sống của ông. Trong cuộc thảo luận này, ông đột nhiên hỏi liệu thôi miên có thể được sử dụng để cho phép ông khám phá các trải nghiệm thức thần của mình hay không? Yêu cầu của ông đã được đáp ứng nhưng khi tỉnh dậy khỏi trạng thái bị thôi miên, ông bày tỏ cảm giác rằng trải nghiệm thôi miên này tương đối khác so với “cảm giác xuyên thấu” có được khi ở trạng thái tư duy sâu. Ông giải thích rằng khi khám phá các trải nghiệm thức thần của mình thông qua thôi miên, ông không cảm nhận được một cảm giác bên trong, tức là cảm giác liên tục về sự chủ quan, của việc ở giữa trải nghiệm thức thần của mình, rằng có một nội dung trí tuệ có trật tự song song với “nội dung cảm xúc” trong khi trạng thái tư duy sâu thiết lập một nền tảng cảm xúc sâu sắc của mang tính ổn định để từ đó ông có thể “dễ dàng phô bày các ý tưởng theo hướng trí tuệ một cách có ý thức” để người đọc có thể phản hồi đầy đủ. Cuộc thảo luận này được Huxley kết thúc bằng lời bình luận sâu sắc rằng trải nghiệm chuyên sâu ngắn ngủi của ông với thôi miên vẫn chưa bắt đầu lĩnh hội và rằng ông không thể mong đưa ra một bình luận thông minh mà không xem xét thêm về nó.
Huxley đã gấp gáp yêu cầu cần phải thực hiện thêm các thử nghiệm ở trạng thái thôi miên sâu với ông ấy, trong đó các hiện tượng phức tạp hơn sẽ được đưa vào để cho phép ông ấy khám phá bản thân mình một cách đầy đủ hơn với tư cách là một cá nhân. Sau khi đánh giá trạng thái tinh thần của Huxley một cách nhanh chóng để xem những gì đã được thực hiện và những gì chưa, Erickson quyết định thực hiện một thử nghiệm thôi miên sâu với khả năng hồi quy phân ly hai giai đoạn (two-stage dissociative regression), tức là quy trình đưa ông trở về quá khứ bằng cách tách ông ra khỏi một giai đoạn được chọn gần đây trong trải nghiệm sống của ông để ông có thể xem xét nó như một người quan sát khách quan từ định hướng của một giai đoạn khác cũng gần đây trong trải nghiệm sống của ông. Cách tốt nhất để thực hiện điều này là thông qua kỹ thuật gây nhầm lẫn (confusion technique – Erickson, 1964). Quyết định sử dụng kỹ thuật gây nhầm lẫn này phần lớn chịu ảnh hưởng bởi nhận thức của Erickson về khả năng trí tuệ vô hạn và sự tò mò của Huxley, điều này sẽ giúp ích rất nhiều bằng cách dẫn dắt Huxley thêm vào kỹ thuật gây nhầm lẫn những phát biểu có thể mang ý nghĩa khác và mang tính phức tạp và tính liên tưởng cao, từ đó gia tăng thêm khả năng gây nhầm lẫn. Thật không may, thử nghiệm này không được ghi hình lại để lưu giữ những chi tiết của những gợi ý thực tế khiến cho Huxley đi vào những trạng thái thôi miên sâu và sâu hơn nữa, cho đến khi “độ sâu của trạng thái thôi miên vừa là một phần của bản thân người được thôi miên, vừa tách biệt khỏi ý thức bình thường” của ông, rằng trước mắt ông xuất hiện trong “sự rõ ràng tuyệt đối, trong thực tế sống động, trong thực tại phi lý, những gì đã từng tồn tại, nhưng giờ đây trong sâu thẳm của trạng thái bị thôi miên, sẽ, trong sự đối đầu đầy hoang mang thách thức tất cả những ký ức và hiểu biết của bạn.” Đây là một gợi ý mơ hồ nhưng toàn điện một cách có chủ đích và Erickson chỉ đơn giản dựa vào trí tuệ của Huxley để giải thích nó với một ý nghĩa sâu rộng đối với chính ông ấy mà Erickson thậm chí không thể đoán được. Tất nhiên, có những gợi ý khấc nhưng chúng tập trung vào hiệu quả của gợi ý được bao gồm trong trích dẫn ở trên. Mục đích của Erickson không phải là một tình huống được xác định mà là một bối cảnh nền cho Huxley được dẫn dắt để xác định nhiệm vụ. Erickson thậm chí còn không cố gắng để đoán xem những gợi ý của mình có ý nghĩa gì đối với Huxley.
Rõ ràng là Huxley đang có phản ứng thôi miên mạnh mẽ trong suốt quá trình Erickson đưa ra lời gợi ý lặp đi lặp lại và kéo dài khi ông đột nhiên giơ tay lên và nói khá to, giọng rất cấp bách: “Tôi nói này Milton, anh có thể im lặng được không. Ở đây đang rất thú vị và việc anh nói liên tục làm tôi mất tập trung và cực kỳ khó chịu đấy.”
Trong hơn hai giờ, Huxley ngồi đó với đôi mắt mở, chăm chú nhìn vào khoảng không phía trước. Biểu cảo trên mặt ông thay đổi nhanh và khó hiểu. Nhịp tim và nhịp thở của ông thay đổi đột ngột và không thể giải thích được và lặp lại theo những khoảng thời gian không đều nhau. Mỗi lần Erickson định nói gì đó với ông ấy thì Huxley sẽ giơ tay lên, có lẽ còn ngẩng đầu lên nữa, và nói như thể ông đang ở trên một độ cao nào đó và thường thì ông sẽ khó chịu yêu cầu Erickson yên lặng.
Sau hai tiếng đồng hồ thì Huxley đột nhiên nhìn lên trần nhà và nhận xét với một sự nhấn mạnh đầy bối rối: Tôi nói này Milton, đây là một bất trắc phi thường. Chúng tôi không biết anh. Anh không thuộc về nơi này. Anh đang ngồi bên rìa khe núi quan sát hai chúng tôi và hai chúng tôi không biết ai đang nói chuyện với anh; và chúng tôi đang ở hành lang nhìn nhau với sự quan tâm phi thường nhất. Chúng tôi biết rằng anh là người có thể xác định danh tính của chúng tôi, và điều phi thường nhất là cả hai chúng tôi đều chắc chắn rằng chúng tôi biết điều đó và người kia thì không thực sự như vậy, mà chỉ là một hình ảnh tinh thần về quá khứ hoặc tương lai. Nhưng anh phải giải quyết vấn đề này bất chấp thời gian và khoảng cách và mặc dù không biết anh, đây vẫn là một tình huống cực kỳ phi thường và hấp dẫn, và tôi là anh ta hay anh ta là tôi? Lại đây Milton, bất kể anh là ai.” Có những nhận xét khác với ý nghĩa tương tự như vậy dù không thể ghi hình lại được, và giọng điệu của Huxley đột nhiên trở nên gấp gáp. Toàn bộ tình huống khiến Erickson cực kỳ bối rối, nhưng sự tách biệt về thời gian và những tách biệt khác dường như chắc chắn có liên quan đến tình huống này.
Dù ngạc nhiên, nhưng với vẻ ngoài bình tĩnh, Erickson thực hiện việc đánh thức Huxley khỏi trạng thái bị thôi miên bằng cách chấp nhận một phần những manh mối nhận được và nói một cách ngắn gọn: “Bất kể anh đang ở đâu, bất kể anh đang làm gì, hãy lắng nghe kỹ những gì đang được nói, và từ từ, dần dần, thoải mái bắt đầu hành động theo nó. Cảm thấy thư giãn và thoải mái, cảm thấy cần thiết lập một mối liên hệ ngày càng tăng lên với giọng nói của tôi, với tôi, với tình huống mà tôi đang đại diện, một nhu cầu quay trở lại các vấn đề mà chúng ta đang bàn luận cách đây không lâu, các vấn đề mà anh cùng thảo luận với tôi cách đây không lâu, và bỏ lại nhưng SẴN SÀNG NHỚ LẠI KHI ĐƯỢC YÊU CẦU tất cả mọi thứ quan trọng. BIẾT NHƯNG KHÔNG BIẾT RẰNG nó SẴN SÀNG NHỚ LẠI KHI ĐƯỢC YÊU CẦU. Và bây giờ, chúng ta hãy xem, đúng vậy, anh đang ngồi ở đó, hoàn toàn tỉnh táo, thư giãn, thoải mái, và sẵn sàng thảo luận về những điều ít ỏi còn lại.”
Huxley tỉnh dậy, dụi mắt và nhận xét: “Tôi có một cảm giác rất lạ thường rằng tôi đã ở trong trạng thái bị thôi miên rất sâu, nhưng đó là một trải nghiệm vô nghĩa nhất. Tôi nhớ rằng anh đã gợi ý tôi nên đi vào trạng thái bị thôi miên sâu hơn, và tôi thấy bản thân mình đã hết sức phục tùng, tôi tôi nghĩ rằng tôi cảm thấy rất nhiều thời gian đã trôi qua, tôi thực sự tin rằng trạng thái tư duy sâu sẽ mang đến nhiều kết quả hơn.”
Vì ông không hỏi cụ thể về thời gian, nên đã một cuộc trò chuyện rời rạc trong đó Huxley so sánh rõ ràng nhưng mơ hồ giữa thực tế bên ngoài của trạng thái bị thôi miên nhẹ với nhận thức giảm rõ rệt hơn về các yếu tố bên ngoại trong trạng thái bị thôi miên sâu trung bình, đi kèm với cảm giác thoải mái vừa phải mà những thực tế bên ngoài đó có thể trở thành hiện thực chắc chắn tại bất kỳ thời điểm nào.
Sau đó ông được hỏi về thực tế trong trạng thái bị thôi miên sâu mà ông vừa thoát ra. Ông trả lời một cách trầm ngâm rằng ông nhớ mang máng là mình đã đi vào trạng thái bị thôi miên sâu nhưng không có ký ức nào về nó. Sau một lúc thảo luận về chứng mất trí nhớ sau thôi miên và khả năng ông đang biểu hiện triệu chứng tương tự, ông cười thích thú và nói rằng một chủ đề như vậy sẽ rất thú vị để thảo luận. Sau một cuộc trò chuyện hơn nữa, ông được hỏi một câu vô nghĩa: “Anh sẽ đặt chiếc ghế đó trong hành lang nào?” (ý chỉ một cái ghế ở gần ông). Câu trả lời của ông rất đáng chú ý: “Thiệt đó Milton, đó là một câu hỏi vô cùng khác thường. Khác thường một cách đáng sợ! Nó hoàn toàn vô nghĩa, nhưng từ “hành lang” gợi một cảm giác kỳ lạ về vừa ấm áp, vừa lo lắng một cách mãnh liệt về nó. Nó hấp dẫn một cách khác thường.” Ông chìm vào những suy nghĩ bối rối trong vài phút và cuối cùng tuyên bố rằng nếu nó có bất kỳ ý nghĩa nào thì chắc chắn đó là một sự liên tưởng huyền bí thoáng qua. Sau một cuộc trò chuyện bình thường, Erickson nhận xét: “Về phần cái rìa khe núi mà tôi đã ngồi, tôi đang tự hỏi là cái khe núi đó sâu bao nhiêu.” Đối với câu nói này, Huxley trả lời: “Thật đó Milton, anh có thể là người bí ẩn một cách đáng sợ nhất. Mấy cái từ “hành lang”, “rìa”, “khe núi”, có tác động phi thường đến tôi. Thật không thể diễn tả được. Để xem tôi có thể liên kết một số ý nghĩa với chúng không.” Trong gần 15 phút, Huxley vật lộn một cách vô ích để tìm ra một số liên tưởng có ý nghĩa với các từ đó, thỉnh thoảng lại nói rằng việc tôi sử dụng chúng một cách có chủ đích nhưng không tiết lộ chủ đích này đã tạo nên sự đảm bảo hoàn toàn rằng các từ đó có một ý nghĩa mà đáng lý ra ông phải là người hiểu rõ. Cuối cùng, ông tiết lộ với sự phấn khích: “Giờ thì tôi hiểu rồi. Thật kỳ lạ khi nó thoát khỏi tôi. Giờ tôi hoàn toàn nhận thức được rằng anh thôi miên tôi và chắc chắn những lời đó có liên quan đến những gì xảy ra trong khi tôi bị tôi miên nhưng hiện tại thì nó dường như vô nghĩa đối với tôi. Tôi tự hỏi liệu tôi có thể khôi phục lại những liên tưởng của mình hay không.”
Trong khoảng hơn 20 phút im lặng, rõ ràng là ông đã suy nghĩ rất căng thẳng, Huxley nhận xét: “Nếu những từ đó thực sự có một ý nghĩa nào đó, tôi thực sự có thể rằng tôi đã bị mất trí nhớ một cách sâu sắc sau khi bị thôi miên. Tôi đã thử tiến vào trạng thái tư duy sâu, nhưng tôi thấy suy nghĩ của mình chỉ tập trung vào những trải nghiệm mescaline (một loại chất gây ảo giác) của mình. Thực sự rất khó để tách bản thân mình ra khỏi những suy nghĩ đó. Tôi có cảm giác rằng tôi đã sử dụng chúng để duy trì chứng mất trí nhớ củ mình. Chúng ta có nên dành tiếp nửa giờ nữ để xem xét những vấn đề khác xem liệu có bất kỳ sự hồi tưởng tự phát nào liên quan đến “hành lang”, “rìa” và “khe núi” không?”
Nhiều chủ đề đã được thảo luận cho đến khi cuối cùng Huxley cũng nói: “Những từ đó mang lại cho tôi một cảm giác ấm áp phi thường, nhưng tôi e rằng tôi hoàn toàn bất lực. Tôi cho rằng tôi sẽ phải phụ thuộc vào anh để biết được điều gì đó, bất kể đó là điều gì. Nó thật lạ thường, có lẽ là điều lạ thường bực nhất.”
Erickson đã cố tình bỏ qua bình luận này nhưng trong cuộc trò chuyện sau đó Huxley thể hiện một biểu cảm vô cùng bối rối trên khuôn mặt, mặc dù ông không hề cố gắng để buộc tôi phải giúp ông. Sau một lúc, Erickson bình luận với một sự nhấn mạnh nhẹ nhàng: “Được rồi, có lẽ từ bây giờ mọi thứ sẽ trở nên sẵn sàng.” Từ tư thế ngồi thoải mái trên ghế, Huxley đứng thẳng dậy với vẻ ngạc nhiên và kinh ngạc rồi nói một tràng nhanh đến mức Erickson không kịp ghi chép lại mà chỉ có thể ghi chú một cách ngắn gọn, rời rạc.
Về bản chất, lời kể của ông là từ “sẵn sàng” có tác dụng kéo lại một bức màn vô thức, phơi bày một trải nghiệm chủ quan hết sức lạ lùng đã bị “xoá bỏ” bởi từ “bỏ lại” và được phục hồi hoàn toàn nhờ vào từ gợi ý “trở nên sẵn sàng”.
Ông giải thích rằng bây giờ ông nhận ra mình đã phát triển một “trạng thái bị thôi miên sâu”, một trạng thái tâm lý khác xa so với trạng thái tư duy sâu, rằng trong trạng thái tư duy sâu, có một nhận thức suy yếu nhưng không quan tâm và không quan trọng về thực tại bên ngoài, một cảm giác đang ở trong trạng thái nhận thức chủ quan đã biết, một cảm giác kiểm soát và mong muốn sử dụng các khả năng và trong đó những ký ức, những bài học và những kinh nghiệm chảy tự do và dễ dàng. Cùng với dòng chảy này, sẽ có một cảm giác liên tục trong bản thân rằng những ký ức, những bài học, những kinh nghiệm và hiểu biết, dù sống động đến đâu, cũng không hơn gì một sự sắp xếp có ý nghĩa của các trải nghiệm tâm lý để tạo thành nền tảng cho một trạng thái cảm xúc dễ chịu chủ quan từ đó sẽ tuôn chảy những hiểu biết toàn diện để sử dụng ngay lập tức và với một ít nỗ lực có ý thức.
Ông khẳng định, giờ đây ông đã biết rằng trạng thái bị thôi miên sâu là một phạm trù trải nghiệm hoàn toàn khác. Thực tại bên ngoài có thể đi vào nhưng nó có được một loại thực tại chủ quan mới, một thực tại đặc biệt có ý nghĩa hoàn toàn mới và khác biệt. Ví dụ, khi Erickson được đưa vào như một phần trong trạng thái bị thôi miên sâu của Huxley, ông không phải là một người cụ thể với một danh tính cụ thể. Thay vào đó, ông chỉ được biết đến như một người mà Huxley biết trong một mối quan hệ mơ hồ, không quan trọng và hoàn toàn không xác định.
Ngoài “thực tại” của Erickson, còn tồn tại một loại thực tại mà người ta gặp trong những giấc mơ sống động, một thực tại mà người ta không nghi ngờ. Thay vào đó, người ta hoàn toàn chấp nhận thực tại đó mà không cần đặt câu hỏi về mặt trí tuệ và không có sự tương phản xung đột hay so sánh mang tính phán xét hay mâu thuẫn để bất cứ thứ gì được trải nghiệm một cách chủ quan đều được chấp nhận một cách vô điều kiện là vừa chân thực một cách khách quan lẫn chủ quan và phù hợp với mọi thứ khác.
Trong trạng thái bị thôi miên sâu, Huxley thấy mình đang ở bên một khe núi sâu rộng, trên bờ vực dốc đứng, ngay tại mép vực, Erickson đang ngồi, chỉ được nhận ra bằng tên và dài dòng một cách bực bội.
Trước mặt ông, trong một bãi cát khô mềm rộng lớn là một đứa trẻ sơ sinh trần truồng nằm sấp. Chấp nhận, không nghi ngờ gì về sự hiện hữu của nó, Huxley nhìn chằm chằm vào đứa trẻ, vô cùng tò mò về hành vì của nó, vô cùng chú tâm cố gắng hiểu những chuyển động quẫy đạp bằng tay và những chuyển động trườn bò của đôi chân. Trước sự kinh ngạc của mình, ông thấy mình đang cảm nhận một cảm giác tò mò mơ hồ như thể ông chính là đứa trẻ sơ sinh và nhìn xuống bãi cát mềm, cố gắng hiểu xem nó là gì.
Khi quan sát hiện tượng đó, ông ấy đã trở nên khó chịu với Erickson vì cố gắng nói chuyện với ông, và ông cảm thấy thật mất kiên nhẫn, do đó yêu cầu Erickson giữ trật tự. Ông quay lại và thấy rằng đứa bé đang lớn lên trước mắt ông, đang bò, đang ngồi, đang đứng, đang tập đi, đang đi, đang chơi, đang nói. Trong sự say mê tột độ, ông quan sát đứa trẻ này lớn lên, cảm nhận các trải nghiệm cá nhân của nó khi lớn lên, khi mong muốn, khi cảm nhận. Ông theo dõi đứa trẻ trong thời gian bị méo mó qua vô số trải nghiệm khi nó trải qua từ khi sơ sinh, đến thời thơ ấu, đến khi đi học, đến những năm thiếu niên. Ông quan sát sự phát triển thể chất của đứa trẻ, cảm nhận những trải nghiệm thể chất và tâm lý chủ quan, đồng cảm với nó, thấu cảm với nó, vui mừng cho nó, suy nghĩ, ngạc nhiên và học hỏi cùng nó. Ông cảm thấy như mình với nó là một, như thể nó là chính ông, và ông tiếp tục quan sát nó cho đến khi cuối cùng ông đã quan sát đứa trẻ từ khi sơ sinh đến khi nó 23 tuổi. Ông bước lại gần để xem chàng trai trẻ đang nhìn cái gì, và đột nhiên nhận ra chàng trai trẻ đó chính là ông – Aldous Huxley, và Aldous Huxley đang nhìn Aldous Huxley kia, rõ ràng là ngoài 50, ngay bên kia hành lang nơi cả hai đang đứng; và ông ấy, 52 tuổi, đang nhìn chính mình, Aldous Huxley 23 tuổi. Sau đó Aldous Huxley 23 tuổi và Aldous Huxley 52 tuổi, dường như cùng nhận ra rằng họ đang nhìn nhau và những câu hỏi tò mò cùng lúc nảy sinh trong tâm trí của mỗi người. Đối với một người, câu hỏi đó là: “Đó có phải là ý tưởng của tôi về việc tôi trông như thế nào khi 52 tuổi không?” và “Hồi 23 tuổi mình trông như vậy đó hả?” Mỗi người đều nhận thức được câu hỏi trong tâm trí của người kia. Mỗi người đều thấy câu hỏi của người kia “thú vị một cách hết sức dị thường” và mỗi người cố gắng xác định đâu là “thực tại thật sự” và đâu là “trải nghiệm chủ quan đơn thuần được chiếu ra bên ngoài dưới dạng ảo giác.”
Đối với cả hai, 23 năm qua là một cuốn sách mở, mọi ký ức và sự kiện đều rõ ràng, và họ nhận ra rằng họ chia sẻ những ký ức đó, và với mỗi người, chỉ có suy đoán tò mò mới đưa ra được lời giải thích khả dĩ cho bất kỳ năm nào từ 23 đến 52.
Họ nhìn qua hành lang (hành lang này không được xác định) và nhìn về rìa khe núi mà Erickson đang ngồi. Cả hai đều biết rằng người ngồi đó có một ý nghĩ không xác định, tên là Milton, và cả hai đều có thể nói chuyện với người này. Cả hai đều nghĩ liệu người này có nghe được lời nói của cả hai bọn họ không, nhưng thử nghiệm đã thất bại vì họ phát hiện ra là họ nói cùng lúc, cũng không thể nói riêng lẻ.
Từ từ, thận trọng, họ tìm hiểu nhau. Một người phải là thật. Một người phải là hình ảnh trong ký ức hoặc một bản phóng chiếu của hình ảnh bản thân. Chẳng phải Aldous Huxley 52 tuổi sẽ có tất cả những ký tức từ năm 23 tuổi đến năm 42 tuổi sao? Nhưng nếu ông có, làm sao ông có thể thấy hình ảnh Aldous Huxley ở độ tuổi 23 mà không bị ảnh hưởng bởi ký ức về những năm tháng đã trải qua sau đó? Nếu ông muốn nhìn thấy Aldous Huxley 23 tuổi thì chẳng phải ông sẽ phải xoá sạch tất cả những ký ức của những tháng năm sau đó để có thể nhìn thấy chàng Aldous Huxley 23 tuổi đó một cách rõ ràng như vậy sao? Nhưng nếu Aldous Huxley 23 tuổi là phiên bản thật thì tại sao anh không thể suy đoán bản thân mình ở một độ tuổi khác từ 23 đến 52 mà lại cứ phải là Aldous Huxley 52 tuổi và không gì hơn thế? Rào chắn tâm lý nào đã tạo ra trạng thái kỳ lạ này? Mỗi người đều thấy mình hoàn toàn nhận thức được suy nghĩ và lý luận của “người kia”. Mỗi người đều nghi ngờ “tính chân thực của người kia” và mỗi người đều tìm ra được lời giải thích phù hợp cho những trải nghiệm chủ quan trái ngược như vậy. Những câu hỏi liên tục được đặt ra, bằng cách nào có thể xác định sự thật và con người không xác định chỉ có một cái tên đang ngồi trên rìa khe núi ở phía bên kia hành lang có liên quan gì đến toàn bộ tình huống này? Liệu con người mơ hồ đó có câu trả lời hay không? Tại sao không trả lời? Tại sao không gọi anh ta và xem?
Với tất cả niềm vui và sự thích thú. Huxley đã kể lại toàn bộ trải nghiệm chủ quan của mình, suy đoán về những năm tháng bị bóp méo thời gian và những khối kỹ ức bị chặn lại tạo ra vấn đề không thể giải quyết về danh tính thực sự này.
Theo kinh nghiệm, Erickson bình luận một cách hời hợt: “Tất nhiên, tất cả những gì có thể bị bỏ lại phía sau để trở nên SẴN SÀNG sau này.”
Ngay lập tức, chứng mất trí nhớ sau thôi miên ban đầu đã được tái lập. Erickson đã nỗ lực để phá vỡ chứng mất trí nhớ sau thôi miên sau khi nó được tái lập bằng những nhận xét che đậy, những tuyên bố thẳng thắn, bằng lời kể về những gì đã xảy ra. Huxley thấy những câu tường thuật của Erickson về một đứa trẻ nằm trên cát, một khe núi sâu, một hành lang “thú vị một cách kỳ lạ”, nhưng chỉ dừng lại ở việc Huxley thấy rằng Erickson đã đưa ra những nhận xét bí ẩn một cách có mục đích. Chúng không gợi lên điều gì khác nữa. Mỗi câu mà Erickson nói, tự nó, thực ra không cung cấp thông tin và chỉ nhằm mục đích khơi dậy sự liên tưởng. Nhưng lại không có kết quả nào xuất hiện cho đến khi ông nói ra từ “sẵn sàng”, sau đó thì kết quả lại diễn ra như trước. Toàn bộ câu chuyện được Huxley kể lại một lần nữa nhưng ông không không nhận ra rằng mình đang lặp lại nó. Những gợi ý thích hợp khi ông ấy hoàn thành lần kể thứ hai của mình đã dẫn đến việc ông nhớ lại đầy đủ.
Một lần nữa, giống như trước, Erickson tái thiết lập tình trạng mất trí nhớ sau thôi miên, và sau khi kể lại trải nghiệm của mình lần thứ ba, Huxley nhận ra rằng đây là lần thứ 3 mình kể lại điều này.
Các chi tiết mở rộng đã được thực hiện cho toàn bộ chuỗi sự kiện, và các so sánh đã được thực hiện cho từng lần kể riêng lẻ, với các bình luận xen kẽ về ý nghĩa. Nhiều mục đã được thảo luận một cách có hệ thống về ý nghĩa của chúng và một trạng thái thôi miên ngắn được tạo ra để có thể làm chúng sống động hơn. Tuy nhiên, Erickson chỉ ghi lại một ít nội dung về trải nghiệm của Huxley vì ông muốn là người tự mình phát triển chúng một cách đầy đủ. Các ghi chú của Erickson chủ yếu liên quan đến trình tự của các sự kiện đã diễn ra và một tóm tắt đầy đủ về toàn bộ diễn biến.
Cuộc thảo luận này được tiếp tục cho đến khi có sự chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo trong lịch trình của tối hôm đó, nhưng không phải trước khi có một thỏa thuận về việc chuẩn bị tài liệu tiếp theo để xuất bản. Huxley đã lên kế hoạch sử dụng cả tư duy sâu và các trạng thái thôi miên mà mình tham gia để làm tư liệu viết bài nhưng không may là các tài liệu này đã mất đi sau đó.
KẾT LUẬN
Thật không may là nội dung phía trên chỉ là một phần trong cuộc nghiên cứu sâu rộng về bản chất của các trạng thái ý thức khác nhau. Trạng thái tư duy sâu của Huxley dường như không mang tính chất thôi miên. Thay vào đó, nó có vẻ là một trạng thái tập trung cực kỳ cao độ với sự tách biệt lớn khỏi thực tế bên ngoài nhưng có khả năng phản ứng đầy đủ với các mức độ sẵn sàng khác nhau đối với các yếu tố bên ngoài. Đó là một trải nghiệm hoàn toàn cá nhân, dường như đóng vai trò là nền tảng chưa được công nhận cho hoạt động làm việc có ý thức cho phép ông tự do sử dụng mọi thông tin đi qua tâm trí mình trong tư duy sâu.
Hành vi thôi miên của ông hoàn toàn phù hợp với hành vi thôi miên ở các đối tượng khác. Ông có khả năng thực hiện mọi hiện tượng của trạng thái bị thôi miên sâu và có thể phản ứng dễ dàng với những gợi ý sau thôi miên và với những tín hiệu cực kỳ tối thiểu. Ông đã nhấn mạnh rằng trạng thái thôi miên hoàn toàn khác với trạng thái tư duy sâu.
Mặc dù có thể so sánh với hoạt động mơ, và chắc chắn việc dễ dàng đưa các từ như “hành lang” và “khe núi” vào cùng một tình huống chủ quan gợi ý về hoạt động giống như trong mơ, những sự bao gồm kỳ lạ như vậy thường được tìm thấy như một sự phát triển tự phát của hoạt động thôi miên sâu ở các đối tượng nghiên cứu có trí tuệ cao. Hành vi mộng du của ông, đôi mắt mở của ông, phản ứng của ông đối với Erickson, và hành vi thôi miên kéo dài của ông đều chỉ ra rằng thôi miên chắc chắn là yếu tố quyết định trong toàn bộ tình huống cụ thể đó.
Sự phát triển đáng chú ý của Huxley về một trạng thái thách biệt, thậm chí còn ghi nhớ yêu cầu ban đầu của ông về một kỹ thuật cho phép, để xem xét sự phát triển và trưởng thành của chính ông theo cách thôi miên trong các mối quan hệ thời gian bị bóp méo, trong khi chỉ ra sự tò mò trí tuệ bao trùm tất cả của Huxley, gợi ý về những khả năng nghiên cứu thú vị và bổ ích nhất. Việc hỏi đáp sau thử nghiệm cho thấy Huxley không có ý nghĩ hay kế hoạch có ý thức nào để xem xét lại trải nghiệm cuộc sống của mình cũng như ông không đưa ra bất kỳ lời giải thích nào về những gợi ý được đưa ra cho mình vào thời điểm bị thôi miên. Điều này đã được xác minh trong quá trình đưa ông vào trạng thái thôi miên và đưa ra yêu cầu đặc biệt này. Ông giải thích rằng khi ông cảm thấy mình “đang chìm sâu vào trạng thái bị thôi miên”, ông bắt đầu tìm kiếm điều gì đó để làm và “đột nhiên tôi thấy bản thân mình thật lạ thường.”
Dù trải nghiệm với Huxley là đáng chú ý nhất, nhưng đây không phải là lần đầu tiên Erickson gặp phải những diễn biến như vậy trong quá trình thoái lui ở các đối tượng nghiên cứu có trí thông minh cao. Một trong những đối tượng thử nghiệm như vậy đã yêu câu được thôi miên và thông báo khi anh ta ở trạng thái bị thôi miên rằng anh ta sẽ phát triển một loại thoái lui cực kỳ thú vị. Điều này chủ yếu là để phục vụ cho mong muốn cá nhân của anh ta trong khi chờ đợi Erickson hoàn thành một số công việc. Yêu cầu của anh ta được đáp ứng và người ta để anh ta ngồi tự do thoải mái trên một chiếc ghế ở bên kia phòng thí nghiệm. Sau khoảng 2 tiếng, anh ta yêu cầu Erickson đánh thức mình. Anh kể rằng đột nhiên thấy mình ở trên một sườn đồi xa lạ và khi nhìn xung quanh, anh ta nhìn thấy một cậu bé mà anh ta “biết ngay” là 6 tuổi. Tò mò về sự hiểu biết này về một cậu bé xa lạ, anh bước đến chỗ đứa trẻ chỉ để phát hiện ra rằng đứa trẻ đó chính là anh. Anh ngay lập tức nhận ra sườn đồi và bắt đầu cố gắng tìm hiểu xem tại sao mình 26 tuổi lại có thể nhìn thấy chính mình lúc 6 tuổi. Anh nhanh chóng nhận ra rằng mình không chỉ có thể thấy, nghe và cảm nhận bản thân thơ trẻ của mình, mà anh còn cảm biết được cả những suy nghĩ và cảm xúc sâu thẳm nhất của nó. Sau khi nhận ra điều này, anh cảm thấy đứa trẻ này đang đói và muốn ăn “bánh quy socola”. Điều này đánh thức một dòng ký ức cho bản thân 26 tuổi của anh, nhưng anh nhận thấy rằng suy nghĩ của cậu bé vẫn lập trung vào bánh quy và cậu bé vẫn hoàn toàn không nhận ra sự có mặt của anh. Anh là một người vô hình, theo một cách nào đó đã thoái lui trong thời gian để có thể nhìn thấy và cảm nhận hoàn toàn bản thân thời thơ ấu của mình. Đối tượng của tôi đã tường thuật lại rằng anh “đã sống” với cậu bé đó trong nhiều nào, theo dõi những thành công và thất bại của cậu, biết đến tất cả những đời sống tâm thức sâu thẳm của cậu, tự hỏi về những sự kiện trong tương lai với cậu, và, cũng như đứa trẻ, anh thấy ngạc nhiên mặc dù bây giờ anh đã 26 tuổi rồi, nhưng anh vẫn bị mất trí nhớ hoàn toàn đối với tất cả các sự kiện xảy ra sau tuổi lên 6 của đứa trẻ tại thời điểm đó, rằng anh không thể nhìn thấy tương lai của đứa trẻ đó. Anh đến trường cùng cậu bé, đi nghỉ cùng cậu, luôn theo dõi sự phát triển và tăng trưởng liên tục về mặt thể chất. Khi mỗi ngày mới đến, anh thấy rằng mình có rất nhiều mối liên hệ về những sự kiện thực tế trong quá khứ cho đến khoảnh khắc hiện tại của cuộc sống đối với bản thân đứa trẻ.
Anh trải qua tiểu học, trung học và sau đó trải qua một quá trình dài quyết định xem liệu có học tiếp lên đại học hay không và nên theo chuyên ngành nào. Anh phải chịu đựng những nỗi đau khổ do sự do dự giống như chính anh khi đó. Anh thấy bản thể kia của mình vui mừng và nhẹ nhõm khi quyết định cuối cùng được đưa ra, và cảm giác vui mừng nhẹ nhõm của anh cũng giống hệ như của bản thể kia.
Đối tượng này giải thích rằng trải nghiệm này thực sự là từng khoảnh khắc sống lại cuộc đời anh ấy cùng với nhận thức mà anh ấy có lúc đó và nhận thức hết sức hạn chế về bản thân anh ấy ở tuổi 26 với tư cách là một người vô hình theo dõi sự trưởng thành và phát triển của chính mình thời thơ ấu, không có nhiều kiến thức về tương lai của đứa trẻ hơn những gì mà bản thân đứa trẻ biết ở bất kỳ độ tuổi nào.
Anh đã tận hưởng từng sự kiện hoàn thành với một bức tranh toàn cảnh rộng lớn và sống động về những ký ức trong quá khi khi mỗi sự kiện hoàn tất. Đến lúc vào đại học, trải nghiệm này kết thúc. Sau đó, anh nhận ra rằng mình đang ở trong trạng thái bị thôi miên sâu và anh muốn thức tỉnh và mang theo ký ức về những gì anh đã trải nghiệm một cách chủ quan vào trạng thái tỉnh táo của mình.
Loại trải nghiệm tương tự cũng xuất hiện trên các đối tượng thử nghiệm khác, cả nam và nữ, nhưng câu chuyện của mỗi người lại có đôi chút khác biệt về cách đạt được trải nghiệm. Ví dụ, một cô gái gặp một người chị em sinh đôi trẻ hơn cô 3 tuổi, thấy mình là “một cặp song sinh giống hệt nhau lớn lên cùng nhau và luôn biết mọi thứ về nhau.” Trong câu chuyện của cô, không có thông tin gì về người em sinh đôi thực thụ của cô, tất cả chỉ là ký ức và các mối liên hệ đều được loại trừ.
Một đối tượng khác, có khuynh hướng máy móc, đã tạo ra một con robot và ban tặng sự sống cho nó để rồi khám phá ra rằng nó chính là cuộc sống của chính ông. Sâu đó ông quan sát con robot trong suốt nhiều năm tháng trải nghiệm và học hỏi, luôn là ông tự mình đạt được những điều đó bởi ông đã bị mất trí nhớ về quá khứ của mình.
Những nỗ lực lặp đi lặp lại để thiết lập nó thành một thí nghiệm có trật tự cho đến nay đều thất bại. Thông thường, đối tượng phản đối hoặc từ chối vì một số lý do không quá dễ hiểu. Trong tất cả các trải nghiệm của tôi với loại diễn biến này trong các trạng thái thôi miên, loại “sống lại” cuộc đời của một người này luôn là một sự kiện tự phát và xảy ra trên các đối tượng có trí thông minh cao và khả năng thích nghi tốt.
Trải nghiệm của Huxley là trải nghiệm được ghi lại đầy đủ nhất và thật không may là phần lớn các chi tiết, sau khi được ông viết ra, đã bị phá huỷ trước khi chúng ta có cơ hội được tiếp cận. Trí nhớ đáng kinh ngạc của Huxley, khả năng sử dụng phương pháp tư duy sâu và khả năng phát triển một trạng thái bị thôi miên sâu để đạt được các mục đích cụ thể và để ông tự đánh thức mình theo ý muốn với nhận thức đầy đủ về những gì mà ông đã hoàn thành (Huxley cần rất ít hướng dẫn vào ngày hôm sau để trở nên thành thạo trong kỹ thuật thôi miên tự động) báo hiệu rất tốt cho một nghiên cứu nhiều thông tin nhất. Thật không may, việc cả hai cuốn sổ tay của ông đều bị cháy ngăn cản ông ấy khỏi bất kỳ nỗ lực nào để khôi phục chúng từ trí nhớ vì cuốn sổ tay của Erickson chứa quá nhiều ghi chú về các mục thủ tục và quan sát mà ông không nhớ hết và chúng cũng quan trọng để giúp ông có thể đưa ra bất kỳ giải thích thỏa đáng nào. Mặc dù vậy, hy vọng rằng báo cáo trên đây có thể đóng góp chút ít vai trò của mình như một nghiên cứu thí điểm ban đầu, bất chấp những thiếu sót, để phát triển một nghiên cứu toàn diện và đầy đủ hơn về các trạng thái ý thức khác nhau.



Bình luận về bài viết này