Tác giả: Aldous Huxley
Thuỳ sưu tầm và biên dịch

Ta có được kiến thức bằng cách dùng kinh nghiệm của bản thân cũng như hệ thống những kiến thức có sẵn mà ta đã biết từ trước để lý giải và định nghĩa những trải nghiệm mới. Sự thấu hiểu đến khi chúng ta tự giải phóng mình khỏi cái cũ và nhờ đó cho phép bản thân tiếp xúc trực tiếp với cái mới và cái bí ẩn trong từng khoảnh khắc tồn tại của chúng ta mà không thông qua bất kỳ trung gian nào.

Cái ‘Mới’ chính là những trải nghiệm nguyên sơ diễn ra trên mọi phương diện: tri giác, cảm xúc, suy nghĩ tự nhiên, cho đến những trạng thái nhận thức phi cấu trúc và mối liên hệ chân thực với con người và vạn vật. Cái ‘Cũ’ là hệ thống các ý tưởng và khuôn mẫu ngôn từ do chính chúng ta tạo ra. Nó là kết quả của việc ta dùng trí nhớ và phân tích, lý luận, thông qua thói quen và định kiến để đóng khung thực tại màu nhiệm kia thành những khái niệm khô cứng. Kiến thức chủ yếu là kiến thức về những khái niệm, định nghĩa, khuôn mẫu, và lý thuyết đã được não bộ xử lý, đóng gói và dán nhãn. Sự thấu hiểu chủ yếu là nhận thức trực tiếp về chất liệu thô, tức là thực tại trần trụi ngay tại khoảnh khắc hiện tại, chưa bị bất kỳ ý nghĩ hay định kiến nào bóp méo hay gán ghép.

Kiến thức luôn ở dạng các khái niệm và có thể được truyền đạt thông qua ngôn từ hoặc các biểu tượng khác. Sự thấu hiểu không mang tính khái niệm, và do đó không thể truyền đạt được. Nó là một trải nghiệm trực tiếp, và người ta chỉ có thể kể về trải nghiệm trực tiếp (một cách rất không đầy đủ), chứ không bao giờ có thể chia sẻ nó với người khác được. Không ai có thể thực sự cảm nhận được nỗi đau hay muộn phiền của người khác, tình yêu hay niềm vui hay cơn đói của người khác. Và tương tự như vậy, không ai có thể trải nghiệm sự thấu hiểu của người khác về một sự kiện hay tình huống cụ thể. Tất nhiên, vẫn có tồn tại kiến thức về một sự thấu hiểu như vậy, và kiến thức này có thể được truyền đạt bằng lời nói hoặc chữ viết, hoặc bằng các biểu tượng khác. Thứ kiến thức có thể truyền đạt được đó rất hữu ích, nó như một lời nhắc nhở rằng trong quá khứ đã từng có người thực sự thấu hiểu sự vật/hiện tượng đó một cách cụ thể, và rằng sự thấu hiểu luôn luôn là điều khả thi ở mọi thời điểm. Nhưng chúng ta phải luôn nhớ rằng kiến thức về sự thấu hiểu không phải là bản thân sự thấu hiểu, vốn là chất liệu thô của kiến thức đó. Sự khác nhau giữa kiến thức và sự thấu hiểu cũng giống như việc đơn thuốc penicillin do bác sĩ kê khác với chính bản thân thuốc penicillin vậy.

Sự thấu hiểu không phải là thứ có thể kế thừa, cũng không phải là thứ có thể đạt được thông qua lao động vất vả. Nó là thứ mà, khi hoàn cảnh thuận lợi, sẽ đến với chúng ta, có thể nói là một cách tự nhiên. Tất cả chúng ta đều là những người nhận biết (knower); chỉ thỉnh thoảng chúng ta mới vượt ra khỏi định kiến và những lối mòn tư duy của mình để trực tiếp thấu hiểu sự bí ẩn của thực tại đang hiện hữu. Do đó, chúng ta rất hiếm khi đánh đồng sự thấu hiểu với kiến thức. Trong số những con người xuất chúng, những người có khả năng thấu hiểu mọi tình huống, hầu hết đều đủ thông minh để thấy rằng sự thấu hiểu khác với kiến thức và rằng các hệ thống khái niệm dựa trên trải nghiệm trong quá khứ cũng cần thiết cho các hoạt động thực tiễn của đời sống như chính những hiểu biết sâu sắc, tự phát từ các trải nghiệm mới. Vì những lý do này, sai lầm trong việc đồng nhất sự thấu hiểu với kiến thức hiếm khi xảy ra và do đó không gây ra vấn đề nghiêm trọng nào.

Nhưng nếu chúng ta nghĩ ngược lại, cho rằng rằng kiến thức cũng giống như sự thấu hiểu và có thể hoán đổi cho nhau, thì đó sẽ là một sai lầm tệ hại biết bao! Tất cả người trưởng thành đều sở hữu những kho kiến thức khổng lồ. Một phần trong đó là kiến thức đúng, một số là kiến thức chưa chính xác, và một số thì trông có vẻ giống kiến thức nhưng lại chẳng đúng cũng chẳng sai; nó đơn thuần là vô nghĩa. Nói như triết gia đương đại lỗi lạc Rudolf Carnap, điều mang lại ý nghĩa cho một mệnh đề không phải là “những hình ảnh hay suy nghĩ đi kèm, mà là khả năng suy diễn ra những mệnh đề tri giác có thể kiểm chứng được từ mệnh đề ban đầu đó, nói cách khác là khả năng kiểm chứng. Để mang lại ý nghĩa cho một mệnh đề, sự hiện diện của các hình ảnh là không đủ, nó thậm chí còn không cần thiết. Chúng ta không thể nhìn thấy trường điện từ hay lực hấp dẫn bằng mắt thường nên không có hình ảnh về chúng; tuy nhiên mệnh đề mà các nhà vật lý khẳng định về các trường lực này vẫn hoàn toàn có ý nghĩa, bởi vì các mệnh đề tri giác có thể kiểm chứng được suy ra từ chúng.” Các học thuyết siêu hình là những mệnh đề không thể được kiểm chứng bằng thao tác thực nghiệm, ít nhất là ở cấp độ trải nghiệm thông thường. Chúng có thể biểu đạt một trạng thái tâm trí, theo cách mà thơ trữ tình biểu đạt; nhưng chúng không mang ý nghĩa cụ thể nào có thể kiểm chứng được trong thực tế. Thông tin chúng truyền tải chỉ là ngụy tri thức (kiến thức giả). Nhưng những người hình thành các học thuyết siêu hình và những người tin vào các học thuyết đó đã luôn nhầm lẫn ngụy tri thức này với kiến thức và từ đó đã tiến hành sửa đổi hành vi của họ cho phù hợp. Ngụy tri thức vô nghĩa thường là một trong những động lực chính thúc đẩy hành động hành động của các cá nhân và tập thể. Và đó là một trong những lý do tại sao tiến trình lịch sử nhân loại lại bi thảm và đồng thời cũng kỳ cục một cách kỳ lạ đến vậy. Hành động dựa trên ngụy tri thức vô nghĩa luôn luôn không phù hợp, luôn luôn lạc đề, và hậu quả là luôn dẫn đến mớ hỗn độn mà nhân loại vẫn luôn sống trong đó — một mớ hỗn độn khiến các thiên thần phải rơi lệ và những nhà trào phúng phải cười phá lên.

Dù là đúng hay sai, có liên quan hay vô nghĩa, là kiến thức và ngụy tri thức, thì tất cả chúng đều đầy rẫy và rẻ rúng như đất bụi ngoài đường, bị coi là hiển nhiên và không được xem trọng. Trái lại, sự thấu hiểu lại hiếm hoi quý giá, có thể ví như là ngọc lục bảo, và vì vậy được đánh giá rất cao. Những người nhận biết (knower) sẽ tha thiết muốn trở thành những người thấu hiểu (understander); nhưng hoặc là kho kiến thức của họ không bao gồm kiến thức về những việc cần làm để trở thành người thấu hiểu; hoặc là họ biết rõ về mặt lý thuyết những gì mình nên làm, nhưng vẫn cứ làm điều ngược lại. Dù trong trường hợp nào, họ cũng nuôi dưỡng một ảo tưởng đầy an ủi rằng kiến thức và, thậm chí là ngụy tri thức, chính là sự thấu hiểu. Cùng với những sai lầm có liên quan mật thiết như: trừu tượng hóa quá mức, khái quát hóa quá mức và đơn giản hóa quá mức, đây là những tội lỗi trí tuệ phổ biến nhất và nguy hiểm nhất.

Trong tổng số những nỗi khốn khổ của nhân loại thì tôi đoán có khoảng một phần ba là những nỗi khổ không thể tránh khỏi. Đây là cái giá mà chúng ta phải trả cho việc được sinh ra trong thân xác này, và cho việc thừa hưởng những gen dễ bị đột biến có hại của loài người. Đây là khoản phí mà Tự nhiên đòi hỏi chúng ta phải trả cho đặc quyền được sống trên bề mặt của một hành tinh mà ở đó đất đai đa phần là cằn cỗi, khí hậu thất thường và khắc nghiệt, và những cư dân sống trên đó bao gồm vô số vi sinh vật có khả năng gây cho con người, cho vật nuôi và cây trồng của họ, muôn vàn những căn bệnh chết người hoặc làm suy nhược. Bên cạnh những nỗi khổ có nguồn gốc vũ trụ này, cần phải kể đến một nhóm lớn hơn nhiều những thảm họa có thể tránh được do chính chúng ta tự chuốc lấy. Bởi ít nhất hai phần ba những nỗi thống khổ của chúng ta bắt nguồn từ sự ngu dốt của con người, từ ác tâm của con người. Sự ngu dốt và tàn ác này lại được thúc đẩy hoặc bao biện bởi những vỏ bọc của chủ nghĩa lý tưởng, chủ nghĩa giáo điều và sự cuồng tín mù quáng nhân danh các thần tượng tôn giáo hoặc chính trị. Nhưng sự cuồng tín, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa lý tưởng chỉ tồn tại vì chúng ta không ngừng phạm phải những tội lỗi về mặt trí tuệ. Chúng ta phạm tội khi gán ý nghĩa cụ thể cho ngụy tri thức vô nghĩa; chúng ta phạm tội khi quá lười biếng để suy nghĩ theo hướng đa nguyên nhân và thay vào đó lại sa đà vào sự đơn giản hóa, khái quát hóa và trừu tượng hóa quá mức; và chúng ta phạm tội khi nuôi dưỡng quan niệm sai lầm nhưng dễ chịu rằng kiến thức khái niệm và, trên hết, ngụy tri thức khái niệm cũng giống như sự thấu hiểu.

Hãy xem xét một vài ví dụ. Những hành động tàn bạo của những tôn giáo có tổ chức (và chúng ta đừng bao giờ quên rằng số điều ác mà các tôn giáo có tổ chức đã làm ra cũng nhiều bằng số điều thiện mà họ đã làm) cuối cùng đều là do “thấy ngón tay mà không thấy mặt trăng” — nói cách khác là nhầm lẫn khái niệm được diễn đạt bằng lời nói với điều bí ẩn cụ thể mà nó đề cập đến hoặc chỉ có vẻ như là đang đề cập đến. Như tôi đã nói, đây là một trong những tội lỗi nguyên thủy của trí tuệ, và là một tội lỗi mà trong đó các nhà thần học đã trượt dài một cách có hệ thống với sự ngạo mạn mang tính duy lý, kỳ cục đến mức đáng ghê tởm. Vì đắm chìm vào loại tội lỗi này mà trong hầu hết các truyền thống tôn giáo lớn trên thế giới, người ta bắt đầu quá coi trọng ngôn từ. Việc quá coi trọng ngôn từ dẫn đến việc thêu dệt và tôn thờ các giáo điều một cách mù quáng, đến việc khăng khăng đòi hỏi sự đồng nhất về niềm tin, đòi hỏi sự đồng thuận của tất cả mọi người đối với một tập hợp các mệnh đề mà, mặc dù vô nghĩa, lại được coi là thiêng liêng. Những ai không chấp nhận sự sùng bái ngôn từ một cách mù quáng này sẽ phải được “cảm hóa” và, nếu người ta không thể làm được điều đó thì họ sẽ bị bức hại, hoặc bị tẩy chay và lên án nếu những kẻ giáo điều thiếu quyền lực chính trị. Trải nghiệm thực tại trực tiếp gắn kết con người. Những niềm tin bị khái niệm hóa, bao gồm cả niềm tin vào một Thượng đế của tình yêu thương và công chính, lại chia rẽ họ và đã đẩy họ vào thế đối đầu nhau suốt nhiều thế kỷ, như lịch sử tôn giáo đầy bi thương đã chứng minh.

Đơn giản hóa quá mức, khái quát hóa quá mức và trừu tượng hóa quá mức là ba tội lỗi khác liên quan chặt chẽ đến tội lỗi khi tưởng tượng rằng kiến thức và ngụy tri thức cũng giống như sự thấu hiểu. Kẻ khái quát hóa và đơn giản hóa quá mức là kẻ khẳng định mà không đưa ra bằng chứng rằng “Tất cả X đều là Y” hoặc “Tất cả A đều có một nguyên nhân duy nhất, đó là B.” Kẻ trừu tượng hóa quá mức là kẻ không buồn bận tâm đến việc xem Jones và Smith, Jane và Mary, là những cá nhân riêng biệt, mà lại thích thú việc hùng biện về chủ đề Nhân loại, Sự tiến bộ, Thượng đế, Lịch sử và Tương lai. Loại tội lỗi trí tuệ này được mọi kẻ mị dân, mọi chiến binh thập tự chinh dung túng. Vào thời Trung Cổ, câu nói khái quát hóa được ưa chuộng nhất là “Tất cả những kẻ ngoại đạo đều bị nguyền rủa.” (Đối với người Hồi giáo, “tất cả những kẻ ngoại đạo” có nghĩa là “tất cả những người Cơ đốc giáo”; đối với người Cơ đốc giáo thì đó là “tất cả những người Hồi giáo”). Một luận điểm cũng phổ biến không kém đó là: “Tất cả những kẻ dị giáo đều bị quỷ dữ xúi giục” và “Tất cả những bà già lập dị đều là phù thủy.” Vào thế kỷ mười sáu và mười bảy, các cuộc chiến tranh và đàn áp, bức hại được biện minh bằng niềm tin rõ ràng và đơn giản rằng “Tất cả những người Công giáo La Mã (hoặc, nếu bạn tình cờ đứng về phía Giáo hoàng, thì là tất cả những người theo đạo Luther, đạo Calvin và Anh giáo) đều là kẻ thù của Chúa.” Hitler tuyên bố rằng mọi tai ương trên thế giới đều có một nguyên nhân, đó là người Do Thái, và rằng tất cả người Do Thái đều là kẻ thù của nhân loại và họ là những kẻ hạ đẳng. Đối với những người Cộng sản, mọi tệ nạn thế giới đều có một nguyên nhân, đó là các nhà tư bản, và tất cả các nhà tư bản cùng những người thuộc tầng lớp trung lưu ủng hộ họ đều là kẻ thù của nhân loại và họ cũng là những kẻ hạ đẳng. Thoạt nhìn, rõ ràng là không một tuyên bố khái quát nào trong số này là sự thật. Nhưng chúng ta có thể thấy ở đây, có một sự thôi thúc mạnh mẽ dẫn con người đến tội lỗi về mặt trí tuệ. Tất cả mọi người đều có thể bị cám dỗ và rất ít người có thể cưỡng lại được.

Trong cuộc sống của con người có rất nhiều tình huống mà trong đó chỉ có kiến thức, được khái niệm hóa, tích lũy và truyền đạt bằng ngôn từ, mới có giá trị thực tiễn. Ví dụ, nếu tôi muốn sản xuất axit sunfuric hoặc làm công việc kế toán cho một ngân hàng, tôi không bắt đầu từ những kiến ​​thức cơ bản của hóa học hay kinh tế học; tôi bắt đầu từ những thành tựu cuối cùng, mới nhất và là đỉnh cao hiện tại của những ngành khoa học này. Nói cách khác, tôi đi học ở một ngôi trường truyền dạy kiến thức liên quan, tôi đọc những cuốn sách mà trong đó những trải nghiệm tích lũy trong quá khứ về những lĩnh vực cụ thể này được trình bày. Tôi có thể học về các chức năng của một kế toán viên hoặc một kỹ sư hóa học thông qua kiến thức. Đối với mục đích cụ thể là sản xuất axit hoặc trở thành một kế toán viên hoặc những công việc chuyên môn khác, tôi không cần phải có sự thấu hiểu sâu sắc về các tình huống cụ thể phát sinh trong từng khoảnh khắc, không cần phải bận tâm chiêm nghiệm những bí ẩn hiện hữu về sự tồn tại của chúng ta. Điều quan trọng đối với tôi với tư cách là một người làm nghề chuyên nghiệp là tôi phải nắm vững tất cả những kiến thức, lý thuyết và khái niệm trong lĩnh vực của mình. Nền văn minh của chúng ta là một nền văn minh công nghiệp, trong đó không một xã hội nào có thể thịnh vượng trừ khi nó sở hữu một đội ngũ tinh hoa các nhà khoa học được đào tạo bài bản cùng một đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên hùng hậu. Việc sở hữu và phổ biến rộng rãi một lượng lớn kiến thức chuyên môn chính xác đã trở thành điều kiện tiên quyết cho sự sống còn của quốc gia. Ở Hoa Kỳ, trong suốt mấy chục năm qua, thực tế này dường như đã bị lãng quên. Các chuyên gia giáo dục đã tiếp thu các lý thuyết của John Dewey về việc “học tập thông qua thực hành” và “giáo dục là sự thích ứng với cuộc sống” và áp dụng chúng theo một cách mà ở nhiều trường học Mỹ hiện nay người ta chỉ có “hành” mà không có “học”, cùng với các khóa học về việc thích ứng với mọi thứ ngoại trừ sự thật cơ bản của thế kỷ hai mươi rằng chúng ta đang sống trong một thế giới nơi sự thiếu hiểu biết về khoa học và các phương pháp của nó là con đường chắc chắn nhất, ngắn nhất dẫn đến thảm họa quốc gia. Trong thế kỷ qua, mọi quốc gia khác đều nỗ lực hết sức để truyền đạt nhiều kiến thức hơn cho nhiều người trẻ hơn. Ở Hoa Kỳ, các chuyên gia giáo dục lại chọn hướng đi ngược lại. Vào đầu thế kỷ trước, năm mươi sáu phần trăm học sinh tại các trường trung học phổ thông Mỹ học đại số; ngày nay chưa đến một phần tư trong số đó thậm chí được giới thiệu về môn học này. Năm 1955, mười một phần trăm học sinh Mỹ được học hình học; năm mươi năm trước con số này là hai mươi bảy phần trăm. Bốn phần trăm trong số họ hiện đang học vật lý, so với mười chín phần trăm vào năm 1900. Năm mươi phần trăm các trường trung học phổ thông Mỹ không cung cấp khóa học về hóa học nào, năm mươi ba phần trăm không có khóa học vật lý. Sự suy giảm chóng mặt về kiến ​​thức này không đi kèm với bất kỳ sự gia tăng nào về sự thấu hiểu; bởi vì không cần phải nói cũng biết rằng các khóa học về điều chỉnh cuộc sống ở trường trung học không dạy về sự thấu hiểu. Chúng chỉ dạy học sinh phục tùng các quy ước hiện hành về hành vi cá nhân và tập thể. Không có gì thay thế được cho kiến thức đúng đắn, và trong quá trình tiếp thu kiến thức đúng đắn, không có gì thay thế được cho sự tập trung và thực hành lâu dài. Ngoại trừ những người có năng khiếu phi thường, việc học, dù bằng phương pháp nào, cũng luôn phải là một công việc khó nhọc. Thật không may là có rất nhiều chuyên gia giáo dục dường như cho rằng trẻ em không bao giờ nên bị yêu cầu phải học hành chăm chỉ. Bất cứ nơi nào sử dụng các phương pháp giáo dục dựa trên giả định này, trẻ em thực tế sẽ không tiếp thu được nhiều kiến thức; và nếu các phương pháp đó được áp dụng trong một hoặc hai thế hệ, xã hội dung túng cho chúng sẽ rơi vào tình trạng suy thoái toàn diện.

Về mặt lý thuyết, những thiếu hụt về kiến thức có thể được bù đắp một cách đơn giản bằng việc thay đổi chương trình giảng dạy. Nhưng trên thực tế, sự thay đổi trong chương trình giảng dạy sẽ không mang lại nhiều tác dụng, trừ khi có một sự thay đổi tương ứng trong quan điểm của các chuyên gia giáo dục. Theo lời của Tiến sĩ H. L. Dodge, một thành viên lỗi lạc trong giới giáo dục Mỹ thì vấn đề của các nhà giáo dục Mỹ là họ “coi bất kỳ môn học nào, từ cách chải chuốt và chăm sóc bản thân đến triết học đều quan trọng hoặc có thể thay thế cho nhau và có đóng góp ngang nhau trong việc thúc đẩy quá trình tự nhận thức bản thân. Tình trạng hỗn loạn về các giá trị này đã dẫn đến việc các ngành khoa học và nhân văn truyền thống bị thay thế bởi những môn học mới này.” Việc liệu có thể thuyết phục được các chuyên gia giáo dục thay đổi thái độ hiện tại của họ hay không vẫn chưa chắc chắn. Nếu điều đó là bất khả thi, chúng ta đành phải tự an ủi mình bằng suy nghĩ rằng thời gian không bao giờ đứng yên và không ai là bất tử. Những gì mà sự thuyết phục và mối đe dọa suy thoái quốc gia không đạt được, thì việc nghỉ hưu, chứng cao huyết áp và cái chết sẽ mang đến, tuy chậm hơn, nhưng lại chắc chắn hơn nhiều.

Việc phổ biến kiến thức đúng đắn là một trong những chức năng thiết yếu của giáo dục, và chúng ta sẽ phải trả giá đắt nếu bỏ bê nó. Nhưng rõ ràng, giáo dục không chỉ là một phương tiện để truyền đạt kiến ​​thức đúng đắn. Nó cũng phải dạy những gì mà Dewey gọi là sự thích ứng với cuộc sống và tự nhận thức bản thân (self-realization). Nhưng chính xác thì làm thế nào để thúc đẩy sự tự nhận thức bản thân và sự thích ứng với cuộc sống? Các nhà giáo dục hiện đại đã đưa ra nhiều câu trả lời cho câu hỏi này. Hầu hết các câu trả lời của họ thuộc về một trong hai trường phái giáo dục chính, phái Tiến bộ (Progressive) và phái Cổ điển (Classical). Các giải pháp theo kiểu Tiến bộ được thể hiện qua việc cung cấp các khóa học về các chủ đề như “đời sống gia đình, kinh tế học tiêu dùng, thông tin việc làm, sức khỏe thể chất và tinh thần, đào tạo công dân toàn cầu và nghệ thuật lãnh đạo quốc gia, và cuối cùng là đào tạo về những nguyên tắc cơ bản – chúng tôi e rằng đây là cái là ít được chú trọng nhất” (theo như lời của Tiến sĩ Dodge). Trong khi đó, các nhà giáo dục theo phái Cổ điển có khuynh hướng cung cấp các khóa học văn học tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp và châu Âu hiện đại, về lịch sử thế giới và triết học — ngoài ra, vì một lý do kỳ lạ nào đó còn có các nhánh triết học phương Tây. Shakespeare và Chaucer, Virgil và Homer — thời đại của họ đã qua lâu rồi và những tư tưởng của họ cũng đã mai một đến mức không thể cứu vãn nổi nữa! Vậy thì, tại sao chúng ta lại phải đưa các tác phẩm kinh điển vào chương trình giảng dạy? Có cả ngàn lý do đã được đưa ra, nhưng hiếm có cái nào có sức mạnh và mạch lạc hơn so với những gì mà Albert Jay Nock đã chia sẻ trong cuốn Hồi ký của một người thừa (Memoirs of a Superfluous Man). “Văn học của Hy Lạp và La Mã là những bản ghi chép dài nhất, đầy đủ nhất và gần như liên tục nhất mà chúng ta có được về những gì mà sinh vật kỳ lạ mang tên Homo sapiens đã bận rộn thực hiện trong hầu hết mọi lĩnh vực tinh thần, trí tuệ và xã hội. Do đó, bộ óc lỗi lạc nào đã xem xét kỹ lưỡng những ghi chép này không chỉ là một bộ óc có kỷ luật; nó còn là một bộ óc giàu kinh nghiệm. Như Emerson nói, bộ óc đó đã đạt tới một cảm giác về sự tồn tại vô tận, cảm giác như nó đã sống xuyên suốt chiều dài lịch sử, và nó theo bản năng nhìn nhận con người đương đại cùng những việc làm của anh ta dưới một góc nhìn sâu sắc và bao quát hơn. Việc học của chúng ta có thể được xem là nền tảng định hình, bởi hơn mọi thứ khác, chúng thúc đẩy sự trưởng thành của con người một cách vô cùng mạnh mẽ. Cicero đã chỉ ra một sự thật trần trụi khi nói rằng những người không có kiến thức về những gì đã diễn ra trước họ thì mãi mãi sẽ chỉ là những đứa trẻ. Và nếu một người muốn mô tả đặc điểm của tư duy tập thể của thời kỳ này, hoặc thực ra là của bất kỳ thời kỳ nào, về cách nó sử dụng sức mạnh quan sát, tư duy, suy luận logic, thì từ tốt nhất để diễn tả điều đó là ‘sự non nớt.’ ”

Cách tiếp cận Tiến bộ và Cổ điển trong giáo dục không phải là không tương thích. Một nền giáo dục hoàn toàn có thể kết hợp việc giáo dục theo truyền thống văn hóa địa phương với việc đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp và tâm lý để thích ứng với các quy ước hiện hành của đời sống xã hội, sau đó tiếp tục lấy nền tảng đó kết hợp thêm với việc truyền đạt các kiến thức khoa học chuẩn xác. Nhưng như vậy đã đủ chưa? Một nền giáo dục như vậy liệu có thể mang đến cho con người khả năng tự nhận thức bản thân và khả năng tự hoàn thiện vốn là mục tiêu của nó không? Câu hỏi này xứng đáng được chúng ta xem xét kỹ lưỡng nhất. Dĩ nhiên, không ai có thể phủ nhận vai trò dẫn dắt của kinh nghiệm tích lũy đối với cách hành xử của cá nhân và toàn xã hội. Chúng ta là con người bởi vì, trong những ngày đầu của lịch sử loài, tổ tiên của chúng ta đã khám phá ra cách bảo tồn và truyền bá kết quả của những kinh nghiệm mà họ đã trải qua. Họ học cách nói chuyện và nhờ đó có thể diễn dịch những gì mà họ đã nhận thức được, những gì họ suy luận từ thực tế khách quan cũng như từ huyễn tưởng của riêng họ, thành một hệ thống các khái niệm, thứ không ngừng được các thế hệ sau bổ sung, bồi đắp và được để lại cho hậu thế, tạo thành một kho tàng di sản pha trộn giữa những điều có ý nghĩa sâu sắc và cả những điều phi lý. Nói theo lời của Albert Jay Nock, “bộ óc đã xem xét kỹ lưỡng những ghi chép này là một bộ óc giàu kinh nghiệm.” Vấn đề duy nhất, theo quan điểm của chúng tôi, là kinh nghiệm gián tiếp có được từ việc nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, ở một số khía cạnh, hoàn toàn không liên quan đến thực tế của thời đại mà chúng ta đang sống. Dĩ nhiên, theo nhiều khía cạnh, thế giới hiện đại có nhiều nét tương đồng với thế giới mà con người thời cổ đại sinh sống. Tuy nhiên, ở nhiều khía cạnh khác, nó lại khác biệt một cách căn bản. Ví dụ, trong thế giới cổ đại, tốc độ thay đổi cực kỳ chậm; còn trong thế giới của chúng ta, sự tiến bộ của khoa học công nghệ liên tục tạo ra những biến động trong đời sống. Trước đây, tục giết trẻ sơ sinh được coi là một điều bình thường (Thebes là thành phố Hy Lạp duy nhất cấm việc bỏ rơi trẻ sơ sinh) và coi chế độ nô lệ không chỉ là thứ cần thiết cho lối sống của người Hy Lạp, mà về bản chất là điều tự nhiên và đúng đắn; chúng ta là những người thừa kế chủ nghĩa nhân đạo của thế kỷ mười tám và mười chín và phải giải quyết các vấn đề kinh tế, nhân khẩu học của mình bằng những phương pháp nhân văn hơn, thay vì lặp lại những thủ đoạn tàn bạo gợi nhớ đến các chế độ toàn trị ngày trước. Bởi vì mọi công việc bẩn thỉu đều do nô lệ làm, nên họ coi mọi hình thức hoạt động chân tay về cơ bản là không xứng đáng với một quý ông và hậu quả là họ không bao giờ đưa các lý thuyết quá trừu tượng, quá duy lý của mình ra kiểm chứng bằng thực nghiệm; chúng ta đã học được, hoặc ít nhất là đang học, cách suy nghĩ theo tư duy thực chứng (think operationally). Họ coi thường những “kẻ man rợ,” không thèm học ngoại ngữ và do đó có thể ngây thơ coi các quy tắc ngữ pháp và cú pháp của tiếng Hy Lạp là các quy luật tư duy (Laws of Thought); chúng ta đã bắt đầu hiểu được bản chất của ngôn ngữ, nguy cơ của việc coi trọng từ ngữ quá mức, nhu cầu phân tích ngôn ngữ là luôn có. Họ không biết gì về quá khứ và do đó, theo lời Cicero, họ giống như những đứa trẻ. (Thucydides, nhà sử học vĩ đại nhất của thời cổ đại, đã mở đầu bài tường thuật của mình về Cuộc chiến Peloponnese bằng cách dửng dưng khẳng định rằng không có sự kiện nào có tầm quan trọng lớn lao xảy ra trước thời của chính ông.) Trong năm thế hệ vừa qua, chúng ta đã tích lũy được kiến thức về quá khứ của loài người kéo dài hơn nửa triệu năm trở lại đây, bao gồm các hoạt động của các bộ lạc và quốc gia trên mọi lục địa. Người xưa đã xây dựng nên những thể chế chính trị đầy khiếm khuyết: nếu hệ thống của Hy Lạp chìm trong sự bất ổn vô phương cứu chữa, thì La Mã lại tự nhốt mình trong khuôn mẫu của sự hiếu chiến và tàn bạo; nhưng điều mà chúng ta cần ngày nay là những gợi ý để kiến tạo một hình thái xã hội hoàn toàn mới: một xã hội vững bền nhưng đầy tính phiêu lưu, hùng cường nhưng nhân đạo, kỷ luật chặt chẽ và có tổ chức nhưng trân trọng tự do, linh hoạt và dễ thích nghi. Trong vấn đề này, Hy Lạp và La Mã chỉ có thể dạy chúng ta những điều tiêu cực — bằng cách chứng minh đâu là những điều không nên làm theo những cách thức khác biệt của họ.

Từ tất cả những điều này, chúng ta có thể thấy rõ ràng là một nền giáo dục cổ điển dựa trên các ngành khoa học nhân văn từ hai nghìn năm trước cần phải được bổ sung bằng các phương pháp giáo dục nhân văn của thời đại mới. Những người theo chủ nghĩa Tiến bộ tuyên bố sẽ cung cấp các phương pháp giáo dục mới; nhưng chắc chắn chúng ta cần một thứ gì đó có nhiều thông tin hơn một chút, hữu ích hơn một chút trong thế giới đang thay đổi chóng mặt này của chúng ta, chứ không chỉ là các khóa học về kinh tế học tiêu dùng và thông tin việc làm hiện nay. Nhưng ngay cả khi có thể thiết kế và cung cấp cho tất cả mọi người một nền tảng giáo dục hoàn toàn đầy đủ về các ngành khoa học nhân văn của quá khứ, hiện tại và tương lai gần, thì liệu các mục tiêu của giáo dục, khác với việc chỉ truyền đạt kiến thức lý thuyết và thực tiễn, có đạt được hay không? Liệu những người thụ hưởng một nền giáo dục như vậy có tiến gần hơn tới mục tiêu tự nhận thức bản thân hay không? Tôi e rằng câu trả lời là Không. Bởi vì tại điểm này, chúng ta nhận thấy mình phải đối mặt với một trong những nghịch lý mang tính cốt lõi trong sự tồn tại kỳ lạ của con người: chúng ta giống như những loài lưỡng cư đang sinh sống, hiện diện trong những thế giới hoàn toàn khác biệt nhau, không thể nào so sánh được với nhau mà cũng chẳng thể dung hoà — thế giới của các khái niệm và thế giới của dữ liệu, thế giới khách quan và thế giới chủ quan, thế giới nhỏ bé, rực rỡ của ý thức cá nhân và thế giới rộng lớn, bí ẩn của vô thức. Trong lĩnh vực giáo dục, nghịch lý này có thể được diễn đạt trong tuyên bố rằng: phương tiện của giáo dục, tức ngôn ngữ, là hoàn toàn cần thiết nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ; rằng chủ đề của giáo dục, tức sự tích lũy và khái niệm hóa những trải nghiệm trong quá khứ, là không thể thiếu nhưng cũng là một chướng ngại cần phải vượt qua. “Tồn tại đi trước bản chất.” Không giống như hầu hết các mệnh đề siêu hình, khẩu hiệu này của các nhà hiện sinh thực sự có thể được kiểm chứng. “Người rừng” – những đứa trẻ bị cách ly khỏi xã hội loài người ngay từ khi còn rất nhỏ, được động vật nhận nuôi và lớn lên trong môi trường động vật, có hình dáng của con người nhưng không phải là người. Bản chất của con người hiển nhiên không phải là thứ chúng ta sinh ra đã có; nó là thứ chúng ta tạo ra hoặc phát triển thành. Chúng ta học cách nói, chúng ta tích lũy những kiến thức đã được khái niệm hoá và cả ngụy tri thức, chúng ta bắt chước người lớn tuổi, chúng ta xây dựng những khuôn mẫu cố định về suy nghĩ, cảm xúc và hành vi, và trong quá trình đó chúng ta trở thành con người, chúng ta trở thành những cá nhân. Nhưng những thứ khiến chúng ta trở thành người lại chính là những thứ cản trở sự tự nhận thức bản thân và ngăn cản sự thấu hiểu. Chúng ta được nhân tính hóa bằng cách bắt chước người khác, bằng cách học lối nói của họ và bằng cách tiếp thu những kiến thức tích lũy mà ngôn ngữ mang lại. Nhưng chúng ta chỉ có thể thấu hiểu khi, bằng cách tự giải phóng bản thân khỏi sự chi phối mang tính chuyên chế của từ ngữ, của các phản xạ có điều kiện và các quy ước xã hội, chúng ta thiết lập được mối liên hệ trực tiếp, không qua trung gian với trải nghiệm. Nghịch lý lớn nhất trong sự tồn tại của chúng ta nằm ở chỗ: để có thể thấu hiểu, trước tiên chúng ta phải tự chất lên mình tất cả những hành trang nặng nề của tri thức và cảm xúc, vốn là rào cản lớn nhất ngăn con người thấu hiểu. Ngoại trừ theo một cách mơ hồ, tiền ý thức, thì về cơ bản, các loài động vật không có khả năng hiểu thấu một tình huống, mặc dù, bằng bản năng di truyền hoặc bằng một hành động thông minh tức thời (ad hoc), chúng có thể phản ứng một cách hoàn toàn thích hợp với tình huống đó, giống như thể chúng hiểu được nó vậy. Sự thấu hiểu có ý thức là một đặc quyền của con người, và đó là một đặc quyền mà chúng ta có được theo một cách rất kỳ quặc, bằng việc thu nạp những thói quen hữu ích lẫn độc hại, những định kiến rập khuôn về nhận thức, suy nghĩ và cảm xúc, những nghi thức hành vi, kho kiến thức phái sinh và ngụy tri thức chắp vá, mà việc sở hữu chúng lại chính là trở ngại lớn nhất cho sự thấu hiểu. Lão Tử nói: “Học tập là việc tích lũy, thu nạp thêm kiến ​​thức mỗi ngày. Thực hành Đạo là việc loại bỏ đi những thứ không cần thiết.” Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta có thể sống chỉ bằng sự bớt đi. Học tập cũng cần thiết như việc quên đi những kiến thức đã học (unlearning). Bất cứ lĩnh vực nào cần sự thành thạo kỹ thuật, việc học tập là không thể thiếu. Từ tuổi trẻ đến khi về già, từ thế hệ này sang thế hệ khác, chúng ta phải tiếp tục bổ sung vào kho tàng kiến thức hữu ích và phù hợp của mình. Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể hy vọng giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề trong môi trường vật lý, và những ý tưởng trừu tượng giúp con người có thể tìm ra con đường đi qua sự phức tạp của nền văn minh và công nghệ. Nhưng đây không phải là cách đúng đắn để đối phó với những phản ứng cá nhân của chúng ta với chính mình hay với những con người khác. Trong những tình huống như vậy chúng ta cần học cách “loại bỏ” những khái niệm đã được tích lũy; trước những thử thách mới, chúng ta không được phép phản ứng bằng những thói quen cũ hay định kiến cũ, không phải bằng những kiến thức lý thuyết được đúc kết từ các sự kiện trong quá khứ và không liên quan gì đến thời điểm hiện tại, không phải bằng các quy luật thống kê cứng nhắc; thay vào đó, ta phải đón nhận những thử thách mới đó bằng một tâm thức trần trụi và nguyên sơ như của một đứa trẻ mới sinh ra đời. Một lần nữa chúng ta lại đối mặt với nghịch lý lớn lao của đời người. Chính việc học tập đã giúp chúng ta phát triển ý thức của mình; nhưng để sử dụng ý thức đã được phát triển này một cách hiệu quả nhất, chúng ta phải bắt đầu bằng việc loại bỏ những kiến thức, thói quen và định kiến đã phát triển nó. Bằng cách không ngừng tích lũy thêm kiến thức khái niệm vào kho tàng kiến thức của mình, chúng ta cho phép mình có thể thấu hiểu một cách có ý thức; nhưng tiềm năng của sự thấu hiểu này chỉ có thể được giải phóng hoàn toàn khi chúng ta bỏ đi tất cả những gì mình đã cất công thu nạp.

Chính vì chúng ta có ký ức nên chúng ta mới tin tưởng vào bản sắc của chính mình với tư cách là những cá nhân và là thành viên của một xã hội nhất định.

The child is father of the Man;
And I could wish my days to be
Bound each to each by natural piety.

— “My Heart Leaps Up” của William Wordsworth

Tạm dịch:

Có Trẻ thơ sau mới có Người
Và tôi ước mong những ngày tháng đời mình
Được gắn kết với nhau bằng lòng thành kính tự nhiên.

Một người thầy dạy về sự thấu hiểu sẽ mô tả điều mà Wordsworth gọi là “lòng thành kính tự nhiên” như là sự đắm chìm vào những ký ức mang nặng cảm xúc, gắn liền với thời thơ ấu và tuổi trẻ. Trí nhớ về các kiến thức thực tế — ví dụ như cách tốt nhất để điều chế axit sunfuric hay cách hạch toán sổ sách — là một phước lành trọn vẹn, thuần túy. Nhưng trí nhớ tâm lý (dùng thuật ngữ của Krishnamurti), ký ức mang theo cảm xúc, dù tích cực hay tiêu cực, đều sẽ gây ra vấn đề. Trong trường hợp tệ nhất, nó là nguồn cơn của chứng loạn thần kinh và chứng mất trí (tâm thần học phần lớn là nghệ thuật giúp bệnh nhân thoát khỏi cơn ác mộng của những ký ức mang cảm xúc tiêu cực của họ). Nếu may mắn không mắc phải tâm bệnh thì nó cũng khiến chúng ta xao nhãng khỏi nhiệm vụ đạt tới sự thấu hiểu – tuy sự xao nhãng này có ích về mặt xã hội nhưng nó vẫn là một chướng ngại cần phải vượt qua hoặc tránh đi. Những ký ức mang nặng cảm xúc gắn kết các mối quan hệ gia đình (hoặc đôi khi làm cho cuộc sống gia đình trở nên ngột ngạt và dễ đổ vỡ), và khi được đúc kết thành các khái niệm và truyền dạy như một truyền thống văn hóa, những ký ức này làm nhiệm vụ gắn kết cộng đồng. Xét trên bình diện của sự thấu hiểu, của lòng bác ái, và ở một mức độ nào đó của sự biểu đạt nghệ thuật, mỗi cá nhân đều có khả năng vượt lên trên những truyền thống xã hội và bứt phá khỏi các giới hạn của nền văn hóa đã đùm bọc, nuôi dưỡng mình. Nhưng xét trên bình diện kiến thức, lề thói và phong tục, con người không bao giờ có thể hoàn toàn tách ra khỏi cái vỏ bọc nhân dạng mà gia đình và xã hội đã đắp nặn cho mình. Nền văn hóa mà con người đang sống trong đó cũng là một dạng nhà tù — nhưng đó là một nhà tù trao cơ hội giải thoát cho bất kỳ tù nhân nào thực sự khát khao tự do, một nhà tù mà vì lý do này hay vô vàn lý do khác, những tù nhân sống trong đó luôn mang một món nợ khổng lồ của lòng biết ơn và sự trung thành đối với chính nơi giam giữ mình. Nhưng dẫu chúng ta có bổn phận phải ‘hiếu kính mẹ cha’, thì ta đồng thời cũng mang một nghĩa vụ khác là phải ‘chối bỏ cha mẹ, anh chị em, và chối bỏ cả chính bản thân mình’ — tức là từ bỏ cái cuộc đời bị xã hội nhào nặn mà ta vốn coi là lẽ đương nhiên. Mặc dù chúng ta cần phải tích lũy thêm vốn liếng văn hóa từng ngày, nhưng ta đồng thời chúng ta cũng phải biết cách không ngừng loại bỏ chúng. Mượn lại tựa đề tiểu luận di cảo của Simone Weil, con người có một ‘Nhu cầu bám rễ’ vô cùng mãnh liệt; thế nhưng trong những thời khắc định mệnh, ta lại khao khát một sự thoát ly cội nguồn tuyệt đối với mức độ bức thiết ngang bằng.

Đặt trong bối cảnh hiện tại, cuốn sách của Simone Weil cùng với phần lời tựa do T. S. Eliot chắp bút cho ấn bản tiếng Anh thực sự mang lại những góc nhìn vô cùng sâu sắc. Simone Weil là một người phụ nữ tài năng xuất chúng, đức hạnh cao quý và khát vọng tâm linh vô bờ bến. Nhưng thật không may cho bản thân bà, cũng như cho những độc giả của bà, bà đã bị đè nặng bởi gánh nặng của kiến thức và ngụy tri thức. Việc bà đánh giá quá cao ngôn từ và khái niệm một cách gần như cuống tín lại càng khiến cho gánh nặng đó trở nên nặng nề không chịu nổi. Một người bạn là giáo sĩ từng nhận xét về bà rằng: ông ‘chưa từng thấy Simone Weil chịu nhượng bộ dù chỉ một lần trong các cuộc tranh luận, bất chấp việc bà luôn tha thiết hướng tới sự khách quan và đạo đức.’ Bà bám chặt vào kho tàng kiến thức và văn hoá của mình đến mức bà bắt đầu tin rằng ngôn từ có tầm quan trọng tối cao. Do đó mà bà thích tranh luận và ngoan cố giữ vững quan điểm của mình. Rất nhiều lần, bà dường như bất lực một cách kỳ lạ, không thể phân biệt được ngón tay chỉ trăng với chính mặt trăng được chỉ. “Nhưng tại sao anh lại lải nhải về Thượng đế?” Meister Eckhart đã hỏi; và từ sự thấu hiểu sâu sắc về thực tại hiện hữu của mình, ông nói thêm: “Bất cứ điều gì anh nói về Ngài đều không đúng sự thật.” Điều này là tất yếu; bởi vì “chân lý cứu rỗi chưa bao giờ được Đức Phật hay bất cứ ai khác thuyết giảng”.

Chân lý có thể được định nghĩa theo nhiều cách. Nhưng nếu bạn định nghĩa nó là sự thấu hiểu (như cách tất cả các bậc thầy về đời sống tâm linh đã định nghĩa nó), thì rõ ràng là “chân lý phải được sống và tự mình trải nghiệm, không có gì để tranh cãi ở đây cả; bởi mọi sự tranh luận chắc chắn sẽ đi ngược lại với bản chất của nó.” Đây là điều mà triết gia Emerson đã thấu triệt và kiên định thực hành theo. Ông kiên quyết từ chối tranh cãi về bất cứ điều gì, đến mức làm cho Henry James (người cha) — một kẻ luôn thích thao túng các khái niệm tôn giáo và ưa gây hấn — phải phát điên. Và điều tương tự cũng đúng với William Law. “Vậy thì hãy gạt bỏ những hư cấu và những suy luận rườm rà của lý trí, dù mục đích là bảo vệ hay chối bỏ đức tin Cơ Đốc giáo! Đó chẳng qua chỉ là sự ngạo mạn ngông cuồng của tâm trí khi con người ta còn vô minh về quyền năng của Chúa và vô tri về tình cảnh của chính mình… Bởi lẽ, con người không thể nhận biết và thấu hiểu được Thượng Đế, thiên đường, địa ngục, ác quỷ hay nhục dục bằng bất kỳ phương thức nào khác ngoài việc thông qua chính sự hiện hữu và biểu hiện của chúng ngay bên trong chúng ta. Và mọi kiến thức giả tạo về bất kỳ điều gì trong số đó mà không xuất phát từ những rung cảm chân thực về sự hiện diện của chúng từ bên trong chính mình, thì kiến thức đó cũng chẳng khác gì ý niệm về ánh sáng đối với một người mù bẩm sinh, chưa bao giờ thực sự nhìn thấy ánh sáng nhưng vẫn tự huyễn hoặc mình rằng mình biết về ánh sáng vậy.” Tất nhiên, điều này không có nghĩa là lý luận rườm rà và lý lẽ là không có giá trị. Đối với kiến thức, chúng không chỉ có giá trị; chúng là không thể thiếu. Nhưng kiến thức không giống như sự thấu hiểu. Nếu chúng ta muốn thấu hiểu, chúng ta phải tách mình ra và ngừng bám rễ vào nền văn hóa của mình, bỏ qua ngôn ngữ, loại bỏ những ký ức mang cảm xúc, ghét bỏ cha mẹ mình, loại bỏ bớt các định kiến trong tư duy của của mình. Meister Eckhart viết: “Chúa Jesus phải được đón nhận bởi một trinh nữ. Một ‘trinh nữ’, nói cách khác, chính là một tâm hồn đã gột sạch mọi tạp niệm ngoại lai, hoàn toàn tự do và trống rỗng như chưa từng tồn tại.”

Về mặt lý thuyết, hẳn là Simone Weil cũng biết về sự cần thiết của việc đạt tới một tâm thế thuần khiết về văn hóa và trạng thái triệt để chối bỏ cội rễ. Nhưng than ôi, bà đã quá bám chấp vào ý tưởng của mình và của người khác, trở thành một người tin tưởng mù quáng vào phép màu của thứ ngôn từ mà bà xử lý rất khéo léo bằng vô số kỹ năng, nên không thể hành động theo kiến thức này. Bà viết: “Nguồn dưỡng chất mà một cộng đồng mang lại cho các thành viên của mình là một thứ vô song, không có gì trong vũ trụ này có thể sánh bằng.” (Chúng ta có thể nói thêm rằng “Tạ ơn Chúa!” sau khi đánh hơi thấy nguồn dưỡng chất tâm linh do nhiều cộng đồng đã biến mất trong quá khứ cung cấp.) Hơn nữa, nguồn dưỡng chất do một cộng đồng cung cấp là thức ăn “không chỉ cho linh hồn của những người đang sống, mà còn cho linh hồn của những người chưa sinh ra.” Cuối cùng, “cộng đồng chính là phương tiện duy nhất để bảo tồn các kho báu tinh thần mà những người đi trước đã tích lũy và để lại, và cũng là cầu nối duy nhất giúp những người đã khuất có thể trò chuyện cùng những người đang sống. Và thực tại duy nhất ở trần gian được gắn kết với vận mệnh vĩnh cửu của con người chính là ánh sáng rực rỡ từ những tâm hồn đã hoàn toàn thấu triệt về vận mệnh này, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.” Câu cuối cùng này chỉ có thể được viết ra bởi một người đã nhầm lẫn kiến thức với sự thấu hiểu, nhầm lẫn những khái niệm chủ quan do con người đề xuất với thực tại khách quan một cách có hệ thống. Tất nhiên, việc nắm được kiến thức về những gì mà những thế hệ đi trước đã nói về sự thấu hiểu thực tại của họ là một điều tốt. Nhưng nếu khẳng định rằng kiến thức về sự thấu hiểu của người khác cũng giống như sự thấu hiểu của chính chúng ta, hoặc tin rằng kiến thức đó có thể trực tiếp dẫn dắt chúng ta đến sự thấu hiểu, là một sai lầm mà tất cả các bậc thầy tâm linh đã luôn cảnh báo chúng ta. Chữ nghĩa trong lời dạy của Thánh Paul chứa đầy sự “cũ kỹ.” Do đó, nó không liên quan gì tới thực tại luôn mới mẻ, cái thực tại chỉ có thể được thấu hiểu trong sự “mới mẻ của tinh thần.” Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Bởi vì ngay cả những bậc hiền triết, những bậc giác ngộ, những nhà tiên tri và những hiện thân thần thánh (avatar) vĩ đại nhất trong quá khứ cũng “chưa bao giờ truyền dạy chân lý cứu rỗi” Hiển nhiên là chúng ta không được phép xem nhẹ di sản trí tuệ của người đi trước, những ghi chép kể lại trải nghiệm và sự thấu hiểu của họ về cuộc đời và con người. Ngược lại, chúng ta nên biết tất cả về chúng. Nhưng chúng ta phải biết tất cả về chúng mà không biến chúng thành những giáo điều tuyệt đối để tôn sùng. Chúng ta phải biết tất cả về chúng, đồng thời luôn ý thức sâu sắc rằng kiến ​​thức đó không đồng nghĩa với sự thấu hiểu của chúng ta và rằng sự thấu hiểu sẽ chỉ đến với chúng ta khi chúng ta đã bỏ bớt đi những gì chúng ta biết và tự làm cho bản thân trở nên trống rỗng và nguyên sơ, tự do như khi chúng ta chưa từng tồn tại.

Chuyển từ nội dung cuốn sách sang phần lời tựa, chúng ta tìm thấy một ví dụ thậm chí còn ấn tượng hơn về sự tôn sùng ngôn từ và khái niệm đến mức vô lý mà những người có văn hóa và uyên bác rất hay mắc phải. Ông Eliot viết: “Tôi không biết liệu bà ấy [Simone Weil] có thể đọc được các Áo Nghĩa Thư (Upanishad) bằng tiếng Phạn hay không — nếu có, thì bà ấy thông thạo thứ ngôn ngữ này đến mức nào. Bởi nó vốn không chỉ là một ngôn ngữ có trình độ phát triển rất cao mà còn là một phương pháp tư duy. Đối với một học giả châu Âu, họ càng nỗ lực đào sâu nghiên cứu nó thì lại càng thấy nó hóc búa và đáng sợ.” Nhưng giống như tất cả các công trình vĩ đại khác của triết học phương Đông, các Áo Nghĩa Thư không phải là những hệ thống suy đoán thuần túy mà trong đó sự trau chuốt hay những tiểu tiết của ngôn từ được xem là yếu tố quan trọng nhất. Chúng được viết bởi những Nhà Thực dụng Siêu việt (Transcendental Pragmatists), như chúng ta có thể gọi họ, những người quan tâm đến việc giảng dạy một học thuyết có thể đem ra thực hành được, một lý thuyết siêu hình có thể được kiểm chứng bằng thực nghiệm, không chỉ thông qua nhận thức, mà bằng sự trải nghiệm trực tiếp của toàn bộ con người ở mọi tầng bậc bản thể, mọi trạng thái tồn tại của anh ta, cả thể xác lẫn tâm hồn. Không nhất thiết phải là một học giả tiếng Phạn uyên bác để có thể hiểu được ý nghĩa của câu “tat tvam asi”, “ngươi là Cái đó” (thou art That – (tiếng Phạn: तत्त्वमसि) là một trong bốn câu kinh vĩ đại (Mahavakyas) của Áo Nghĩa Thư trong Ấn Độ giáo, thường được dịch là “Ngươi chính là cái ấy” hoặc “Ta là cái đó”. Nó khẳng định sự đồng nhất giữa bản ngã cá nhân (Atman) và thực tại tối thượng, ý thức vũ trụ (Brahman). (Tương tự như vậy, không nhất thiết phải là một học giả tiếng Do Thái sâu sắc để hiểu ý nghĩa của câu “ngươi chớ giết người.”) Việc hiểu rõ về một học thuyết (trái ngược với kiến thức lý thuyết về học thuyết đó) sẽ chỉ đến với những người chọn dấn thân vào thực hành, tức là thực hiện các hoạt động cho phép trải nghiệm trực tiếp cái “tat tvam asi” mà không thông qua trung gian, hoặc theo lời của Law là “cảm nhận rõ rệt chân lý đang giáng sinh ngay trong bản thân mình.” Liệu Simone Weil có biết tiếng Phạn hay không? Câu hỏi này hoàn toàn lạc đề — chỉ là một màn đánh lạc hướng văn hóa đặc biệt bốc mùi nhằm khiến chúng ta đi chệch khỏi con đường tiến hóa tâm linh: con đường đi từ cái tôi nhỏ bé đến cảnh giới siêu việt hơn, từ một bản ngã bị trói buộc bởi các khái niệm đến một tâm hồn tự do tuyệt đối. Liên quan đến Áo Nghĩa Thư hay bất kỳ tác phẩm triết học Ấn giáo hay Phật giáo nào khác, chỉ có một câu hỏi xứng đáng được xem xét một cách nghiêm túc. Đó là: Làm thế nào để có thể trải nghiệm trực tiếp, không qua trung gian một câu như ‘tat tvam asi,’ một mệnh đề siêu hình chẳng hạn như ‘Niết bàn và luân hồi là một,’ như một sự thật hiện hữu? Làm thế nào để linh hồn cá nhân có thể vượt qua rào cản ngôn ngữ và những chấp niệm học thuật của các học giả để có thể thấu hiểu được ‘Cái đó’ (That) – cái thực tại tối thượng vốn dĩ luôn đồng nhất với bản ngã cá nhân ‘Ngươi’ (thou) – bất chấp mọi nỗ lực phủ nhận chân lý nguyên thuỷ này. Cụ thể, chúng ta nên tuân theo những phương pháp nào? Những phương pháp do Patanjali truyền dạy, hay những phương pháp của các nhà sư Tiểu thừa (Hinayana)? Những phương pháp của phái Mật tông (Tantrik) ở Bắc Ấn Độ và Tây Tạng, của các Đạo gia miền Viễn Đông, hay của những người theo Thiền tông (Zen)? Những phương pháp được Thánh Gioan Thánh giá và tác giả của cuốn Đám mây Vô minh (The Cloud of Unknowing) mô tả? Nếu người học giả châu Âu muốn tiếp tục bị nhốt trong nhà tù được tạo ra bởi những thèm khát riêng tư của mình và những khuôn mẫu tư duy thừa hưởng từ những người đi trước, thì bằng mọi giá hãy để anh ta lao mình vào, thông qua nghiên cứu tiếng Phạn, tiếng Pali, tiếng Trung hay tiếng Tây Tạng, lao mình vào nghiên cứu bằng lời nói về “một lối tư duy, mà họ càng nỗ lực đào sâu nghiên cứu nó thì lại càng thấy nó hóc búa và đáng sợ.” Mặt khác, nếu anh ta muốn bản thân giác ngộ bằng cách thực sự thấu hiểu sự thật nguyên thủy được mô tả hoặc ám chỉ trong các Áo Nghĩa Thư và các kinh sách khác của thứ mà chúng ta sẽ tạm gọi là “tôn giáo tâm linh” vì chưa tìm được một tên gọi tốt hơn, thì anh ta phải phớt lờ các vấn đề về ngôn ngữ và triết học suy đoán, hoặc ít nhất đẩy chúng xuống vị trí thứ yếu, và tập trung sự chú ý của mình vào các phương pháp thực hành để nhờ đó tiến trình từ kiến thức đến sự thấu hiểu có thể được thực hiện một cách tốt nhất.

Từ những ký ức tập thể mang cảm xúc tích cực được tổ chức thành một truyền thống văn hóa hoặc tôn giáo, bây chúng ta hãy quay trở lại với những ký ức cá nhân mang cảm xúc tích cực, được các cá nhân tổ chức thành một hệ thống “lòng thành kính tự nhiên”. Chúng ta không có quyền đắm chìm trong lòng thành kính tự nhiên — nói cách khác là vào những ký ức mang đầy cảm xúc về niềm hạnh phúc trong quá khứ và những tình yêu đã tàn phai — cũng như không có quyền than vãn về những nỗi khốn khổ đã qua và tự hành hạ mình bằng việc cứ mãi hối hận về những lỗi lầm cũ. Và chúng ta cũng không có quyền lãng phí khoảnh khắc hiện tại để vui trước những niềm vui tương lai hoàn toàn giả định, cũng như không có quyền lãng phí nó để lo sợ về những tai họa có thể xảy ra. Dante nói: “Không có nỗi đau nào lớn hơn việc, khi trong cảnh khốn cùng lại nhớ đến những lúc hạnh phúc.” Đáp lại, những người đã đạt được sự thấu suốt đưa ra một giải pháp tưởng chừng như vô cảm, phũ phàng: “Vậy thì hãy dứt bỏ những hoài niệm hạnh phúc ấy và thẳng thắn đối diện với những khó khăn của hiện tại.” Việc dọn dẹp ký ức được Thánh Gioan Thánh giá xếp vào vị trí điều thiện hảo thứ hai, chỉ sau trạng thái hợp nhất với Thượng đế, và là điều kiện tiên quyết cho sự hợp nhất đó.

Từ “Buddha” (Phật) có thể được dịch là “người tỉnh thức” hay “giác ngộ”. Những người chỉ thuần túy gom góp kiến thức hoặc tự huyễn hoặc bản thân về sự hiểu biết của mình thực chất là đang đắm chìm trong một cơn mộng du, bị đóng khung bởi những giới hạn của cá nhân và định kiến của nền văn hoá. Những người có thể thấu hiểu được thực tại khách quan đúng như những gì nó đang diễn ra trong từng khoảnh khắc, là những người hoàn toàn tỉnh táo. Ký ức mang theo những cảm xúc dễ chịu là một loại thuốc ngủ, hay nói đúng hơn thì nó là tác nhân gây thôi miên. Một nhà thôi miên người Mỹ, Tiến sĩ W. B. Fahnestock, tác giả của cuốn sách ‘Statuvolism, or Artificial Somnambulism’ (Mộng du nhân tạo) xuất bản vào năm 1871, đã khám phá ra điều này bằng thực nghiệm. “Khi một người muốn bước vào trạng thái [mộng du nhân tạo] này, tôi sẽ để họ ngồi trên ghế sao cho cơ thể được thoải mái và thư giãn tuyệt đối. Tiếp theo, họ được hướng dẫn để tập trung suy nghĩ của mình vào một nơi quen thuộc nào đó, không quan trọng là ở đâu, miễn là họ đã từng ở đó trước đây và có vẻ mong muốn được quay lại đó một lần nữa, dù chỉ là trong suy nghĩ. Khi họ tâm trí họ đã đến được nơi đó, hoặc tập trung vào đối tượng mong muốn, tôi sẽ liên tục trò chuyện để giúp họ duy trì sự tập trung… Quá trình này phải được kiên trì thực hiện trong một khoảng thời gian.” Cuối cùng, “khả năng thấu thị sẽ được đánh thức.” Bất cứ ai từng trải nghiệm quá trình thôi miên, hoặc đã từng xem một chuyên gia giàu kinh nghiệm thôi miên cho một đối tượng khó thì đều biết phương pháp của Fahnestock có thể hiệu quả như thế nào. Tình cờ, sức mạnh xoa dịu của những ký ức mang cảm xúc tích cực cũng từng được Tiến sĩ W. H. Bates — một bác sĩ nhãn khoa — tái khám phá trong một bối cảnh y học khác. Ông thường yêu cầu bệnh nhân của mình nhắm mắt lại và hồi tưởng lại ký ức về những trải nghiệm hạnh phúc nhất của họ. Nhờ vậy, những căng thẳng về cơ bắp và tinh thần đều được xoa dịu, giúp bệnh nhân có thể sử dụng đôi mắt và tâm trí của mình trong một trạng thái thư giãn, từ đó mang lại hiệu quả hoạt động cao hơn. Từ tất cả những điều này, có thể kết luận một cách rõ ràng là: mặc dù những ký ức mang cảm xúc tích cực có thể và nên được sử dụng cho các mục đích trị liệu cụ thể, nhưng không được phép lạm dụng “lòng thành kính tự nhiên” một cách bừa bãi; bởi vì việc đắm chìm vào những hồi ức đẹp đẽ có thể dẫn đến một trạng thái giống như thôi miên — một trạng thái hoàn toàn đối lập với sự tỉnh thức, sự thấu hiểu. Những người sống với những ký ức đau buồn thường dễ rơi vào trạng thái loạn thần, còn những người suốt ngày đắm chìm trong hồi ức đẹp đẽ thì dễ trở thành người mộng du; nỗi khổ của ngày nào thì đủ cho ngày ấy — và điều tốt lành cũng vậy.

Trong thần thoại Hy Lạp, các nàng nàng thơ (Muse), là con gái của Nữ thần Ký ức (Memory), và cũng giống như Marcel Proust, mọi nhà văn đều dấn thân vào một cuộc tìm kiếm thời gian đã mất, dù vô vọng. Nhưng một nhà văn giỏi là người biết cách “donner un sens plus pur aux mots de la tribu” (mang lại một ý nghĩa thuần khiết hơn cho ngôn từ). Nhờ ý nghĩa thuần khiết hơn này, người đọc có thể tiếp nhận câu chữ của ông với một sự thấu hiểu sâu sắc hơn rất nhiều so với khi họ trực tiếp chứng kiến sự kiện ấy ngoài đời thực – bởi ở ngoài đời, góc nhìn của họ thường bị chi phối bởi những định kiến cá nhân và khuôn mẫu văn hóa của cộng đồng nơi họ sống. Một nhà thơ vĩ đại phải ghi nhớ rất nhiều, khiến cho bản thân họ hiếm khi duy trì được trạng thái thấu hiểu trong mọi hoàn cảnh; nhưng họ vẫn biết cách sử dụng ngôn từ để diễn đạt một cách chính xác và giúp người đọc có thể dễ dàng hiểu được. Thời gian đã qua không bao giờ có thể quay trở lại, nhưng trong công cuộc tìm kiếm dĩ vãng của mình, nhà thơ có thể mở ra trước mắt người đọc những hình ảnh thoáng qua, những khoảnh khắc chớp nhoáng về thực tại vĩnh hằng.

Không giống như nhà thơ, các nhà huyền học là “đứa con của thời hiện tại.” Jalal-ud din Rumi – một người trước hết là nhà thần học Sufi giáo rồi mới đến là một thi nhân – đã từng nói: Quá khứ và tương lai đang che khuất Thượng Đế khỏi tầm mắt chúng ta. Hãy thiêu rụi cả hai thứ đó bằng lửa. Ngươi định để mình bị chia cắt bởi những đốt thời gian này giống như một thân sậy cho đến bao giờ? Chừng nào chưa được đục thông các đốt, cây sậy sẽ không bao giờ thấu triệt được những bí mật thiêng liêng, cũng chẳng thể cất lên tiếng hát khi có môi chạm vào hay hơi thở thổi qua.” Cùng với hình ảnh phản chiếu của nó trong sự mong đợi, ký ức mang nặng cảm xúc là một rào cản ngăn chúng ta tiếp cận với sự thấu hiểu.

Lòng thành kính tự nhiên rất dễ bị biến đổi thành lòng mộ đạo nhân tạo. Nguyên nhân là vì trong bất kỳ xã hội nào, luôn có những ký ức mang đậm sắc thái cảm xúc được tất cả mọi thành viên trong xã hội đó chia sẻ. Và những ký ức tập thể này lại được tổ chức thành các khuôn mẫu truyền thống tôn giáo, chính trị hay văn hóa giáo điều. Những truyền thống này được nhồi nhét một cách có hệ thống vào tâm trí của giới trẻ từ thế hệ này sang thế hệ khác và đóng một vai trò quan trọng trong vở kịch dài về quá trình huấn luyện và lập trình những đứa trẻ này thành công dân theo đúng khuôn mẫu của xã hội đó. Vì ký ức tập thể của cộng đồng này sẽ khác với ký ức tập thể của cộng đồng khác nên sự gắn kết xã hội do truyền thống tạo ra luôn mang tính cục bộ, phiến diện và bài ngoại. Chúng ta luôn có sự sùng bái, cả tự nhiên lẫn nhân tạo, đối với mọi thứ thuộc về ‘phe mình’, đi kèm với sự nghi ngờ, ác cảm và khinh miệt đối với mọi thứ thuộc ‘phe họ’.

Lòng thành kính nhân tạo có thể được tạo nên, tổ chức và nuôi dưỡng theo hai cách — bằng cách lặp đi lặp lại những khuôn mẫu câu chữ về đức tin và thờ phụng, và bằng cách thực hiện các nghi thức và hành vi mang tính biểu tượng. Như có thể dự đoán được, cách thứ hai là phương pháp hiệu quả hơn. Cách dễ nhất để một người hoài nghi có được đức tin là gì? Câu hỏi đã được Pascal trả lời từ hơn ba trăm năm trước. Kẻ không có đức tin phải hành động “như thể anh ta tin tưởng, lấy nước thánh, làm lễ v.v… Điều này sẽ tự nhiên khiến anh ta tin tưởng và sẽ làm anh ta mụ mẫm.” (Cela vous abêtira — theo nghĩa đen, sẽ làm bạn trở nên ngu ngốc.) Để bênh vực thần tượng Pascal của mình trước những nhà phê bình từng bị sốc bởi ngôn từ quá đỗi phũ phàng của ông, Giáo sư Jacques Chevalier nhấn mạnh: Chúng ta buộc phải tự làm cho mình trở nên ngu muội, phải triệt tiêu đi trí năng của chính mình. Bởi lẽ, ‘sự kiêu hãnh của trí tuệ sẽ tước đoạt Thượng Đế khỏi chúng ta và hạ thấp con người xuống ngang hàng với loài cầm thú.’ Điều này, tất nhiên, là hoàn toàn đúng. Nhưng kể cả khi đây là sự thật thì cũng không có nghĩa là chúng ta phải tự làm mình ngu muội đi theo cách mà Pascal và tất cả các nhà truyền giáo của tất cả các tôn giáo đã tuyên bố. Thói kiêu ngạo của trí tuệ chỉ có thể được chữa khỏi bằng cách bớt coi trọng những ngôn từ phô trương sáo rỗng, vứt bỏ thứ ngụy tri thức bị đóng khung trong các khái niệm và mở lòng để trực tiếp đón nhận thực tại. Lòng thành kính nhân tạo dựa trên các phản xạ có điều kiện chỉ đơn thuần chuyển sự kiêu ngạo trí tuệ từ cá nhân ngạo mạn sang Giáo hội thậm chí còn ngạo mạn hơn của anh ta. Dù chỉ là gián tiếp, sự kiêu hãnh vẫn còn nguyên vẹn. Đối với một kẻ cuồng tín, sự thấu hiểu hay tiếp xúc trực tiếp với thực tại là điều cực kỳ khó khăn. Hơn thế nữa, việc ta ấp ủ một niềm tôn kính sâu sắc dành cho một thánh tích, một vĩ nhân hay một giáo điều nào đó không hề là minh chứng bảo đảm thánh tích kia là thật, vĩ nhân kia không bao giờ sai, hay giáo điều kia là chân lý. Sir Francis Galton – một học giả đa tài và có tư duy sáng tạo lỗi lạc bậc nhất thời kỳ Victoria – đã tiến hành một thí nghiệm mà trong bối cảnh này chúng ta có thể rút ra từ đó một bài học rất sâu sắc. Như ông đã viết trong tự truyện của mình, mục tiêu của thí nghiệm này là để “hiểu thấu những cảm giác khiếp nhược của những kẻ man rợ trước uy quyền và sức mạnh của ngẫu tượng, dù họ nhận thức rất rõ rằng đó là các sản phẩm do bàn tay con người làm ra. Nếu có thể, tôi muốn tự mình trải nghiệm cảm giác sùng bái đó… Không dễ để có thể tìm được một đối tượng thí nghiệm phù hợp, bởi nguyên tắc là phải chọn một thứ vốn dĩ không hề khơi gợi một chút cảm giác linh thiêng nào. Cuối cùng, tôi chọn một bức tranh biếm họa, sử dụng hình ảnh nhân vật Punch – một nhân vật rối gỗ hài hước, kệch cỡm và lố bịch ở Anh – và tự huyễn hoặc mình rằng nó sở hữu quyền năng thần thánh. Tôi đối xử với nó bằng một thái độ tôn kính như thể nó sở hữu sức mạnh và quyền năng để ban thưởng hoặc trừng phạt hành vi của con người đối với nó, và tôi thấy mình dễ dàng phớt lờ sự phi lý trong niềm tin do chính mình tạo ra. Thí nghiệm đã thành công. Tôi bắt đầu nảy sinh và duy trì một cảm giác tôn kính mãnh liệt đối với bức tranh trong thời gian rất lâu – y hệt như những gì một kẻ man rợ dành cho tượng thần của anh ta. Từ đó, tôi nhận ra thứ quyền lực và sức mạnh thao túng mà những ngẫu tượng ấy có thể tác động lên con người và đức tin mù quáng của họ.

Bản chất của phản xạ có điều kiện là khi nghe thấy tiếng chuông reo thì con chó sẽ tiết nước bọt, khi nhìn thấy hình tượng được mình tôn thờ hoặc nghe thấy những câu kinh mà mình đã thuộc lòng, trái tim của tín đồ sẽ tràn ngập lòng tôn kính và tâm trí của anh ta ngập tràn đức tin. Và điều này xảy ra bất kể những câu kinh đó có ý nghĩa gì, bất kể bản chất của bức tượng mà người đó quỳ lạy là như thế nào. Người tín đồ lúc đó không phản ứng một cách tự phát với thực tại khách quan; anh ta đang phản ứng với một thứ gì đó, hoặc một từ, hoặc một cử chỉ, một biểu tượng, thứ tự động kích hoạt một gợi ý ám thị hậu thôi miên đã được cài đặt từ trước. Meister Eckhart, một trong những nhà tâm lý học tôn giáo sắc sảo nhất, đã nhìn thấu sự thật này. “Kẻ nào ảo tưởng rằng mình sẽ tìm thấy Chúa trong suy nghĩ, trong lời cầu nguyện và trong các thánh vụ ngoan đạo, v.v. nhiều hơn lúc anh ta ngồi bên lò sưởi hay làm việc trong chuồng gia súc, thì thực chất kẻ đó đang lấy áo choàng trùm kín đầu Chúa và giấu Ngài xuống gầm bàn. Bởi vì ai tìm kiếm Chúa thông qua những khuôn mẫu cố định thì rốt cuộc chỉ nắm được cái vỏ khuôn mẫu, mà vuột mất Thượng Đế ẩn giấu bên trong. Nhưng ai tìm kiếm Chúa mà không thông qua bất kỳ hình thức đặc biệt nào thì sẽ chạm đến bản thể thực sự của Chúa, và một người như thế sẽ luôn đồng hành cùng Jesus, và bản thân họ sẽ trở thành sự sống.”

“Nếu bạn đi tìm Phật, bạn sẽ không thấy Phật.” “Nếu bạn cố tình trở thành Phật, Phật của bạn chính là luân hồi.” “Nếu một người tìm kiếm Đạo, người đó sẽ đánh mất Đạo.” “Khởi tâm muốn muốn đưa bản thân mình hòa hợp với Chân như (Suchness), bạn sẽ ngay lập tức đi chệch hướng.” “Kẻ nào muốn giữ mạng sống của mình thì sẽ mất nó.” Tất cả những lời răn này đều dựa trên cái gọi là Law of Reversed Effort – càng dùng ý chí gượng ép để đạt được một điều gì đó, bạn càng dễ thất bại, và kết quả nhận lại thường trái ngược hoàn toàn với mong muốn ban đầu – tương đương với các khái niệm như Vô vi trong Đạo giáo và Vô sở đắc trong Bát Nhã Tâm Kinh. Sự thấu đạt và kết quả mà sự thấu đạt đó mang lại chỉ đến với những người học được thứ nghệ thuật đầy nghịch lý của việc làm mà như không làm, kết hợp sự thả lỏng tuyệt đối với hành động, buông bỏ hoàn toàn cái tôi cá nhân để nhường chỗ cho Sức mạnh Siêu việt Vô hình (Unknown Quantity – Thượng Đế, Đạo, Phật Tánh, Vũ trụ, hay Thực tại Tối hậu) tự do vận hành và dẫn dắt. Chúng ta không thể tự khiến mình thấu hiểu; điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm là nuôi dưỡng một trạng thái tâm trí, trong đó sự thấu hiểu có thể đến với chúng ta. Trạng thái này là gì? Rõ ràng nó không phải là bất kỳ trạng thái nhận thức hạn hẹp nào. Một tâm trí hành động theo mệnh lệnh của các ám thị hậu thôi miên hoặc bị trói buộc bởi những kỷ niệm đầy cảm xúc thì không thể nào thấu hiểu được từng khoảnh khắc của thực tại khách quan, bởi một tâm trí như vậy luôn nhìn thực tại qua lăng kính của quá khứ. Một tâm trí được rèn luyện trong sự tập trung cao độ cũng không phải là một tâm trí thích hợp để thấu hiểu thực tại. Bởi vì sự tập trung chỉ đơn thuần là việc loại trừ một cách có hệ thống, đóng cửa ý thức để gạt bỏ tất cả, lúc đó toàn bộ tâm trí chỉ có thể tập trung vào một suy nghĩ, một ý tưởng, một hình ảnh duy nhất, hoặc thậm chí phủ định hoàn toàn mọi suy nghĩ, lý tưởng và hình ảnh. Nhưng dù chân thực đến đâu, cao cả đến đâu, thánh thiện đến đâu, thì cũng không có một suy nghĩ, ý tưởng hay hình ảnh nào có thể chứa đựng được toàn bộ thực tại hay dẫn đến sự thấu hiểu thực tại. Sự phủ định nhận thức cũng không thể dẫn đến một nhận thức trọn vẹn hơn, vốn là thứ cần thiết cho sự thấu hiểu. Cùng lắm thì những thứ này cũng chỉ có thể dẫn đến trạng thái phân ly xuất thần (ecstatic dissociation – một trạng thái đê mê, tách rời hoàn toàn khỏi thực tại), trong đó ta lầm tưởng mình đã thấu hiểu được bản chất của thực tại, nhưng thực chất ta chỉ đang nắm bắt được một khía cạnh nhất của thực tại — cái mà người ta vẫn gọi là khía cạnh ‘tâm linh.’ Để thấu hiểu thực tại một cách trọn vẹn trong từng khoảnh khắc của nó, chúng ta cần một trạng thái nhận thức hoàn toàn rộng mở, không bị giới hạn. Ta không được phép cố tình thu hẹp nhận thức ấy bằng lòng mộ đạo mù quáng hay sự tập trung cao độ; đồng thời, ta cũng không được để nó bị lu mờ một cách vô thức bởi sự hời hợt và sức mạnh của thói quen. Sự thấu hiểu đến khi chúng ta đạt được trạng thái thức tỉnh toàn vẹn — khả năng nhận thức đạt đến giới hạn tận cùng của thể chất và tinh thần của chúng ta. Tất nhiên, điều này là một học thuyết rất cổ xưa. “Hãy tự biết mình” (Know thyself) là một lời khuyên đã xuất hiện từ rất lâu, có lẽ là từ những ngày đầu của nền văn minh nhân loại, thậm chí có thể là từ trước đó. Nhưng để thực sự biết mình, con người không thể chỉ quanh quẩn chìm đắm trong việc tự phân tích nội tâm, mà họ phải làm nhiều hơn thế. Nếu muốn thực sự biết mình, ta phải biết môi trường xung quanh mình; bởi lẽ, về mặt thể xác, ta là một phần của môi trường, một thực thể tự nhiên sống giữa các thực thể tự nhiên khác, và về mặt tâm trí, bản ngã của ta phần lớn được tạo thành từ những phản ứng tức thời trước ngoại cảnh, cũng như những phản ứng thứ cấp của ta trước những phản ứng tức thời đó, tức là suy nghĩ và cảm xúc phát sinh. Do đó, trên thực tế, “hãy tự biết mình” là một lời kêu gọi hướng tới sự nhận thức toàn diện (total awareness). Đối với những người thực hành nó, nhận thức toàn diện tiết lộ điều gì? Đầu tiên, nó tiết lộ những hạn chế của thứ mà chúng ta gọi là “Tôi”, cùng những kỳ vọng lớn lao và hết sức vô lý của nó. Cuối một bài thơ nổi tiếng với những lời lẽ hùng hồn, nhà thơ Henley tội nghiệp đã tuyên bố: “Tôi là người làm chủ số phận của mình, Tôi là thuyền trưởng của linh hồn mình” (I am the master of my fate, I am the captain of my soul.) Nhưng sự thật thì không hẳn là như vậy. Số phận của ta không phải là thứ mà ta có thể chi phối hay làm chủ, ta chỉ có thể nương theo và hợp tác với nó, để từ đó hy vọng có thể định hướng được nó phần nào. Ta cũng không phải là thuyền trưởng của linh hồn mình; chúng ta chỉ là hành khách ồn ào nhất của nó mà thôi – một hành khách thậm chí còn không đủ quan trọng để ngồi ở bàn thuyền trưởng và cũng không biết, không được thông báo gì, về việc con tàu linh hồn trông như thế nào, hoạt động ra sao hay đang đi về đâu. Nói một cách ngắn gọn, nhận thức toàn diện bắt đầu bằng việc nhận thức được sự thiếu hiểu biết và sự bất lực của chính ta. Làm thế nào mà các phản ứng điện hoá trong não lại cho phép chúng ta cảm thụ một bản tứ tấu của Haydn và khiến cho cảm xúc thăng hoa, hay cho phép chúng ta suy tưởng về Joan of Arc? Chẳng ai biết tại sao cả. Chúng ta có thể xem xét một vấn đề đơn giản hơn nhiều. Tôi có thể nhấc tay phải lên không? Câu trả lời là, Không, tôi không thể. Tôi chỉ có thể ra lệnh; việc nhấc tay lên thực sự là do một ai đó khác thực hiện. Là ai? Tôi không biết. Làm sao? Tôi không biết. Và khi tôi ăn xong, ai sẽ tiêu hóa bánh mì và phô mai? Khi tôi bị đứt tay, ai sẽ chữa lành vết thương? Trong khi tôi ngủ, ai sẽ phục hồi sức lực cho cơ thể mệt mỏi của tôi, và khiến cho tâm trí suy nhược của tôi quay trở lại trạng thái tỉnh táo? Tất cả những gì tôi có thể nói là “Tôi” không thể làm được bất kỳ điều nào trong số những việc này. Danh mục những gì tôi không biết và không có khả năng làm được có thể được kéo dài gần như vô tận. Ngay cả tuyên bố rằng tôi biết suy nghĩ cũng chỉ được chứng minh một phần bởi những sự thật có thể quan sát được. Chân lý sơ khởi của Descartes, “Tôi tư duy, nên tôi tồn tại” (I think, therefore I am), khi suy xét kỹ hơn, hóa ra lại là một mệnh đề đáng nghi ngờ nhất. Trong thực tế, có phải chính tôi là người đang thực hiện việc tư duy không? Chẳng phải sẽ đúng hơn khi nói rằng: “Những ý nghĩ sinh ra, và đôi khi tôi nhận thức được chúng” sao? Ngôn ngữ, cái kho tàng chứa đựng những quan sát hóa thạch và những triết lý tiềm tàng đó, dường như cũng ngầm xác nhận sự thật này. Bất cứ khi nào tôi thấy mình suy nghĩ thông suốt một cách bất thường, tôi thường vô thức thốt lên: “Một ý tưởng vừa lóe lên trong đầu tôi,” hoặc, “Nó vừa hiện lên trong đầu tôi,” hoặc, “Tôi nhìn thấy nó rõ ràng.” Trong mọi trường hợp, những cách nói đó đều ám chỉ rằng suy nghĩ có nguồn gốc “từ bên ngoài,” thuộc về một thế giới tinh thần rộng lớn tương đương với thế giới vật chất xung quanh chúng ta. Nhận thức toàn diện xác nhận những manh mối ẩn chứa trong ngôn ngữ hàng ngày này. Đặt trong mối tương quan với cái “Tôi” chủ quan, phần lớn tâm trí của chúng ta thực ra lại nằm ở bên ngoài. Suy nghĩ của tôi là một tập hợp các sự kiện tinh thần, nhưng vẫn tồn tại độc lập ở bên ngoài. Tôi không phải là người tạo ra những ý tưởng vĩ đại nhất của mình; tôi chỉ tình cờ tìm thấy chúng. Sau đó, nhận thức toàn diện cho thấy những sự thật sau đây: rằng tôi hoàn toàn ngu dốt, rằng tôi bất lực đến mức vô dụng và rằng những điều đáng giá nhất làm nên con người tôi thực chất lại là những ‘đại lượng vô hình’ (unknown quantities) nằm ở ‘bên ngoài,’ dưới dạng những đối tượng tin thần ít nhiều hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi. Ban đầu, sự thật này nghe có vẻ khá bẽ bàng và thậm chí là đáng thất vọng. Nhưng nếu tôi toàn tâm toàn ý chấp nhận, thì những sự thật này sẽ trở thành suối nguồn của sự bình yên, là lý do để tôi sống thanh thản và vui vẻ. Hãy thử nghĩ mà xem, tôi ngu dốt và bất lực, ấy vậy mà, bằng cách này hay cách khác, tôi vẫn đang ở đây – không thể phủ nhận rằng có những lúc tôi thấy mình bất hạnh và bất mãn – nhưng tôi vẫn đang sống với đầy sinh khí. Bất chấp mọi thứ, tôi sống sót, tôi vượt qua, thậm chí đôi khi còn sống rất tốt. Từ hai sự thật trần trụi này — một mặt là sự tồn tại của tôi và mặt khác là sự thiếu hiểu biết và bất lực của tôi — tôi chỉ có thể suy luận rằng cái không-phải-tôi (‘not-I’ hay ‘phi ngã’), thứ chăm sóc cơ thể tôi và mang lại cho tôi những ý tưởng tốt nhất, hẳn phải cực kỳ thông minh, hiểu biết và mạnh mẽ. Thế nhưng, vì tự ngã của tôi ích kỷ và coi mình là trung tâm, tôi lại luôn làm mọi cách để can thiệp vào hoạt động có lợi, cản trở sự vận hành êm đẹp của cái phi ngã này. Nhưng bất chấp những yêu ghét cá nhân của tôi, bất chấp ác tâm của tôi, cơn cuồng si của tôi, những nỗi lo âu gặm nhấm tôi, bất chấp việc tôi tôn sùng ngôn từ một cách thái quá, bất chấp thói quen tự hủy hoại bản thân bằng cách không chịu sống ở hiện tại mà cứ đắm chìm trong quá khứ hoặc phấp phỏng về tương lai, cái phi ngã này liên kết với tôi, nâng đỡ tôi, bảo bọc tôi, cho tôi một chuỗi dài những cơ hội thứ hai. Chúng ta biết rất ít và có thể làm được rất ít; nhưng ta luôn có quyền tự do lựa chọn: có bằng lòng hợp tác với một sức mạnh vĩ đại hơn và một trí tuệ hoàn hảo hơn hay không, một ‘Đại lượng Vô hình’ vừa tiềm tàng vừa siêu việt, vừa mang tính vật chất vừa mang tính tinh thần, vừa chủ quan vừa khách quan. Nếu chúng ta hợp tác, chúng ta sẽ ổn thôi, ngay cả khi điều tồi tệ nhất có thể xảy ra. Nếu chúng ta từ chối hợp tác, chúng ta sẽ mãi đi sai đường ngay cả trong những hoàn cảnh thuận lợi nhất.

Những kết luận này chỉ là những thành quả đầu tiên của nhận thức toàn diện. Những vụ mùa bội thu hơn vẫn còn ở phía sau. Khi còn vô minh, tôi chắc chắn rằng tôi sẽ mãi mãi là tôi, đinh ninh rằng cái ‘Tôi’ của mình là một thực thể độc lập và tồn tại vĩnh viễn. Niềm tin sai lầm này bắt nguồn từ những ký ức mang nặng cảm xúc. Theo lời của Thánh Gioan Thánh giá, chỉ khi nào tách mình ra khỏi những ký ức đó, ta mới có thể thoát khỏi cảm giác về sự tách biệt, thoát khỏi bức tường cô lập bản ngã của mình và qua đó chuẩn bị cho tâm trí của mình khả năng thấu hiểu thực tại đa chiều trên mọi tầng bậc của nó, trong từng khoảnh khắc của nó. Nhưng chúng ta không thể dùng ý chí của mình để thoát khỏi ký ức, cũng không thể làm điều này bằng kỷ luật có hệ thống hoặc bằng sự tập trung — thậm chí bằng việc tập trung hoàn toàn vào ý tưởng loại bỏ ký ức là làm cho đầu óc trống rỗng. Ký ức chỉ có thể tự tan biến khi ta đạt tới trạng thái nhận thức toàn diện. Do đó, nếu tôi nhận thức được sự xao nhãng của mình — khi tôi đắm chìm vào những ký ức mang nặng cảm xúc hoặc tưởng tượng mơ mộng dựa trên những ký ức như vậy — thì vòng quay tâm trí sẽ tự động dừng lại và ký ức sẽ tan biến, ít nhất là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Nếu tôi trở nên hoàn toàn nhận thức được sự oán giận, sự hẹp hòi của mình, thì ngay trong những khoảnh khắc tỉnh thức ấy, các cảm xúc tiêu cực sẽ tự động nhường chỗ cho một thái độ phản ứng sáng suốt và thực tế hơn trước hoàn cảnh xung quanh. Tất nhiên, nhận thức của tôi phải là hoàn toàn thuần khiết, không bị vấy bẩn bởi bất kỳ sự phán xét nào — dù là đồng tình hay lên án. Những đánh giá, phán xét về giá trị là những phản ứng thứ cấp đối với những phản ứng ban đầu, được diễn đạt dưới dạng lời nói. Nhận thức toàn diện là một phản ứng trực tiếp, không lựa chọn và không thiên vị đối với toàn bộ tình huống hiện tại. Ở trạng thái này, ta đón nhận sự việc bằng một nhận thức thuần khiết, tuyệt đối không để những định kiến hay phản ứng thứ cấp chen vào giới hạn góc nhìn. Ngay cả khi trong đầu ta xuất hiện những lời khen ngợi hay chê bai, ta cũng chỉ bình thản quan sát những khen chê đó như một dữ kiện khách quan đang diễn ra mà thôi. Trái ngược với điều này, những nhà đạo đức học chuyên nghiệp tin tưởng vào ý chí bề mặt, tin vào sự trừng phạt và khen thưởng, và với tư cách là những kẻ nghiện adrenaline, chẳng có gì khiến họ thỏa mãn hơn là được đắm chìm trong sự phẫn nộ đầy chính nghĩa. Trong khi đó, các bậc thầy tâm linh đích thực lại chẳng mấy tin vào cái ý chí bề mặt hay tác dụng của việc thưởng phạt, cũng không đắm chìm vào việc nhân danh chính nghĩa để phẫn nộ và chửi bới người khác. Kinh nghiệm đã dạy họ rằng, về bản chất, không thể đạt được những điều tốt đẹp nhất thông qua việc rao giảng đạo đức. “Đừng phán xét để khỏi bị phán xét” (Judge not that ye be not judged) là phương châm sống của họ và nhận thức toàn diện là phương pháp tu tập của họ.

Đi sau hai, ba ngàn năm, một vài bác sĩ tâm thần học hiện đại cuối cùng cũng đã khám phá ra phương pháp này. Giáo sư Carl Rogers viết: “Socrates đã phát triển những ý tưởng mới mẻ, được lịch chứng minh là có tính xây dựng xã hội.” Tại sao ông ấy lại làm được điều đó? Bởi vì ông ấy “đặc biệt cởi mở với mọi trải nghiệm và không bao giờ mang tâm lý phòng thủ. Giải thích cho điều này, các nghiên cứu tâm lý trị liệu đã chỉ ra một sự thật: Nếu ta kết hợp những rung động bản năng dựa trên trải nghiệm giác quan và linh cảm của mình – vốn là đặc điểm của toàn bộ giới động vật, với năng lực nhận thức tự do, phi định hướng – thứ vốn chỉ có ở loài người, chúng ta sẽ có một cá nhân phát triển toàn diện, có khả năng nhận thức được những đòi hỏi của văn hóa cũng như những nhu cầu sinh lý của chính nó về thức ăn và tình dục; nhận thức được mong muốn về những mối quan hệ thân thiện, những tình bạn chân thành cũng giống như nhận thức được mong muốn tự đề cao bản thân; nhận thức được sự dịu dàng mong manh và nhạy cảm của mình đối với người khác cũng giống như nhận thức được sự thù địch của mình đối với người khác. Khi con người chưa phải là một con người trọn vẹn, khi họ chối bỏ nhận thức và phủ nhận sự tồn tại của các khía cạnh khác nhau trong trải nghiệm của chính mình, thì quả thực chúng ta có đủ lý do để sợ họ và hành vi của họ, thực tế này đã và đang được những gì diễn ra trên thế giới chứng minh. Ngược lại, khi con người là một người hoàn thiện, trọn vẹn nhất, khi họ là một sinh vật hoàn chỉnh, là phiên bản tốt nhất của chính mình, khi nhận thức về trải nghiệm của họ đầy đủ thì hành vi của họ là đáng tin cậy.” Thà muộn còn hơn không! Thật an ủi khi thấy những chân lý cổ xưa nay lại xuất hiện như một ‘phát kiến mới toanh’ trong ngành tâm lý trị liệu. Gnosce teipsum — hãy tự biết mình (know thyself). Hãy thấu hiểu bản thân trong mối tương quan với những ý định công khai và cả những động cơ ẩn giấu bên trong; thấu hiểu dòng chảy tư duy cũng như sự vận hành của thể xác. Và quan trọng nhất, hãy thấu hiểu mình trong mối liên kết với những thực thể ‘Phi Ngã’ vĩ đại — những thực thể bảo hộ luôn âm thầm giữ cho suy nghĩ của ta không bị chệch hướng và giữ cho chức năng cơ thể ta hoạt động bình thường, bất chấp mọi nỗ lực phá hoại của tự ngã. Hãy nhận thức toàn diện về những gì bạn nghĩ và làm, về những người có mối quan hệ với bạn, những sự kiện luôn thúc giục và tác động đến bạn trong mọi khoảnh khắc tồn tại của mình. Hãy nhận thức một cách khách quan, thực tế, không phán xét. Khi đối diện với những suy nghĩ hay cảm xúc đang nảy sinh ngay lúc này, đừng dùng những định kiến hay khuôn mẫu ngôn từ trong quá khứ để phân loại và phản ứng lại với chúng. Nếu bạn làm được điều này, ký ức sẽ được loại bỏ, kiến thức và ngụy tri thức sẽ bị trả về đúng vị trí thích hợp của chúng, và bạn sẽ đạt tới sự thấu hiểu — nói cách khác, bạn sẽ kết nối trực tiếp với thực tại tại trong mọi khoảnh khắc. Điều tuyệt vời hơn là, bạn sẽ khám phá ra điều mà Carl Rogers gọi là “sự dịu dàng và nhạy cảm đối với tha nhân” – tức là lòng trắc ẩn của bạn. Và không chỉ là sự dịu dàng của bạn, mà là sự dịu dàng của vũ trụ, sự cân bằng hoàn hảo của vũ trụ — bất chấp cái chết, bất chấp sự đau khổ. “Dẫu Ngài có giết tôi, tôi vẫn sẽ tin cậy Ngài.” Đó là lời tuyên xưng của một người đã hoàn toàn thức tỉnh. Và câu: “Chúa là tình yêu” cũng thể hiện một sự thức tỉnh tương tự. Theo quan điểm thông thường, câu thứ nhất nghe như lời nói nhảm của một kẻ mất trí, còn câu thứ hai thì hoàn toàn không phù hợp với kinh nghiệm thực tế và hiển nhiên là không đúng sự thật. Nhưng lẽ thông thường không dựa trên nhận thức toàn diện; nó là sản phẩm của quy ước xã hội, từ lời của kẻ khác được tổ chức lại trong ký ức, của những trải nghiệm cá nhân bị giới hạn bởi đam mê và thiên kiến, của những ý niệm đã được thánh hoá và lợi ích cá nhân trần trụi. Nhận thức toàn diện mở đường cho sự thấu hiểu, và khi một tình huống bất kỳ được thấu hiểu, bản chất của toàn bộ thực tại sẽ được hiển lộ, và những lời nói tưởng chừng như vô lý, điên rồ của các bậc huyền môn sẽ được chứng minh là đúng sự thật, đó là cách diễn đạt gần với sự thật nhất mà ngôn ngữ con người có thể làm được khi phải cố gắng diễn tả một cảnh giới vốn dĩ không thể diễn tả được bằng ngôn từ. Một trong tất cả và tất cả trong Một; luân hồi (samsara) và niết bàn (nirvana) là một; sự đa dạng chính là sự thống nhất, và sự thống nhất không phải là một mà là không-phải-hai (not-two); vạn vật đều là tính không (void), nhưng vạn vật đều là Pháp thân (Dharma-Body) của Đức Phật — v.v… Nếu chỉ dùng kiến thức lý thuyết để suy xét, những câu nói này là hoàn toàn vô nghĩa. Chúng chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta đạt đến cảnh giới của sự thấu hiểu. Vì khi có sự thấu hiểu, sẽ có sự dung hợp trải nghiệm giữa Cứu cánh và Phương tiện, giữa Trí tuệ (Wisdom) vốn là sự nhận thức vượt thời gian về Chân như (Suchness) với Lòng từ bi (Compassion) vốn là Trí tuệ trong hành động. Trong toàn bộ kho từ vựng cũ kỹ, nhàu nát và sờn rách của chúng ta, “tình yêu” chắc chắn là từ bẩn thỉu nhất, bốc mùi nhất, nhầy nhụa nhất. Được rao giảng rầm rộ trên hàng triệu bục giảng, được ngâm nga một cách dâm dục qua hàng tỉ chiếc loa phóng thanh, nó đã trở thành một sự xúc phạm đối với thẩm mỹ tinh tế và những cảm xúc cao đẹp, một điều tục tĩu mà người ta ngần ngại mỗi khi thốt ra. Thế nhưng, ta vẫn buộc phải gọi tên nó, bởi vì suy cho cùng, Tình Yêu chính là chân lý cuối cùng.

Một phản hồi cho “ALDOUS HUXLEY: KIẾN THỨC VÀ SỰ THẤU HIỂU”

  1. Ảnh đại diện pineapplebeer
    pineapplebeer

    dịch hay và kỳ công quá, cảm ơn bạn (có 1 lỗi chính tả nhỏ là chau chuốt (đúng là trau)).

    Thích

Gửi phản hồi cho pineapplebeer Hủy trả lời

Quote of the week

What should young people do with their lives today? Many things, obviously. But the most daring thing is to create stable communities in which the terrible disease of loneliness can be cured.

~ Kurt Vonnegut

Nếu thấy các bài viết hay và hữu ích, hãy mua cho Thuỳ một ly Marou