Nguồn: frame.io
Thuỳ sưu tầm và biên dịch
Metadata là dữ liệu về một file video đi kèm với file đó, tách biệt hoàn toàn với phần hình ảnh và âm thanh. Dữ liệu này có thể cực kỳ giá trị cho toàn bộ quá trình hậu kỳ. Một số metadata (ví dụ như tốc độ màn trập, thông tin ống kính, ngày, giờ, timecode…) được máy quay ghi lại. Thông tin về ống kính sẽ rất có giá trị nếu bạn làm CGI.
Metadata Là Gì
Rất có thể bạn đã từng nghe về khái niệm về metadata và biết sơ về nó, ví dụ như là nó chưa các thông tin về tốc độ khung hình và codec. Cái đó đúng, nhưng metadata còn hơn thế nữa. Nếu bạn tách từ này thành hai chữ “meta” và “data”, bạn sẽ thấy “meta” có nghĩa là “về một thứ gì đó” và “data” chính là thứ đó.
Trong thế giới sản xuất, “thứ đó” (tức dữ liệu – data) được coi là “bản chất”, tức là chính bản thân media. Mọi thứ còn lại là metadata. Mọi thứ mà chúng ta biết về media là metadata, dù nó là các thông tin kỹ thuật hoặc các thông tin về nội dung, tất cả những gì chúng ta biết là metadata.
Metadata không phải là một khái niệm mới, nó chỉ là một cái tên mới cho những gì mà bạn có thể đã và đang sử dụng. Thay vì gọi nó là metadata, nhiều người gọi nó là “notes”, “log notes”, “script notes” hoặc “logging”.
Các ghi chú về kịch bản, địa điểm, script note, nhãn của tape hoặc thẻ, log note và thậm chí là các bản transcript đều là những mô tả bổ sung liên quan đến quá trình quay và dựng phim mà không phải là bản thân media. Chúng đều là metadata.
Nó không mới, nhưng thế giới kỹ thuật số cho phép chúng ta làm được nhiều điều với metadata hơn so với những thứ chúng ta có thể làm được với các ghi chú trên giấy. Chỉ riêng việc chúng ta có thể sử dụng các công cụ tìm kiếm đã tạo ra một sự khác biệt to lớn rồi.
Trong thế giới lấy media làm trung tâm này, chúng ta có metadata kỹ thuật (technical metadata) mô tả các khía cạnh kỹ thuật của file, như là tốc độ khung hình (frame rate), kích thước hình ảnh, codec… Metadata kỹ thuật khá dễ trích xuất vì nó vốn có sẵn trong các đặc tính của file.
Metadata kỹ thuật áp dụng cho toàn bộ file media (và tất cả các clip trích xuất từ nó) vì từ khía cạnh kỹ thuật, mọi khung hình đều giống nhau. Metadata kỹ thuật không cho chúng ta biết điều gì về nội dung file cả.
Metadata nội dung (content metadata) mô tả nội dung của phim hoặc hình ảnh video bằng cách áp dụng một phần mô tả nội dung cho toàn bộ hoặc một phần của file. Nếu không có metadata nội dung, chúng ta không biết gì về nội dung của file. Metadata nội dung chỉ có thể áp dụng cho một phần của file media vì mô tả sẽ thay đổi khi nội dung thay đổi. Một ví dụ về một loại metadata nội dung có thể là cỡ cảnh, “cận cảnh” (Close up) chẳng hạn, nhưng nếu máy quay di chuyển, nó có thể trở thành “trung cảnh” (Medium shot) trong cùng một clip.
Metadata không chỉ được áp dụng cho thế giới media của chúng ta. Metadata được thu thập khi chúng ta xem video trên Youtube và đánh giá nó, hoặc khi chúng ta mua hàng online, hoặc khi chúng ta gọi điện cho ai đó. Bạn sẽ tìm thấy thêm thông tin về mối liên hệ giữa metadata và các ứng dụng được thảo luận trên tin tức trong phần Metadata Và Thế Giới Rộng Lớn Hơn (Metadata and the Wider World)
Trong thế giới của nhà làm phim và lưu trữ Jason Scott “Metadata là một bức thư tình gửi đến tương lai.”
Như chúng ta đã đề cập ở trên, trong giai đoạn hậu kỳ có hai loại metadata cơ bản: metadata kỹ thuật và metadata nội dung. Ngoài ra còn có ứng dụng thứ ba của metadata trong ngành truyền thông và giải trí, và đó là metadata phân phối (distribution metadata), bao gồm nội dung và các quyền liên quan đến một chương trình hoặc một bộ phim hoàn chỉnh.
Metadata Kỹ Thuật
Metadata kỹ thuật bao gồm các thông tin mà chúng ta nhận được từ máy quay. Không có gì đáng ngạc nhiên, nó là các thông tin kỹ thuật về file media. Bao gồm các thông tin kỹ thuật hiển nhiên như kích thước hình ảnh, framerate, codec… Nhưng nó cũng gồm nhiều thông tin khác, tuỳ thuộc vào máy quay, mà nó có thể bao gồm các thông tin về focus, white balance, GPS, số serial của máy quay và ống kính, và nhiều thông tin khác mà có thể bạn sẽ nghĩ là không cần thiết.
Metadata kỹ thuật được sử dụng để quản lý media và tự động hoá một số thao tác.
Metadata kỹ thuật đi kèm với file từ máy quay vì nó phụ thuộc và máy quay và loại file mà máy quay tạo ra. Một số metadata nằm ngay trong chính bản thân file, nhưng trong một số trường hợp, nó nằm trong một file “sidecar” riêng biệt trong cùng một folder với file media. Các file sidecar này thường là file XML với các thông tin liên quan trong đó. Mỗi loại file XML đều đặc thù cho loai máy quay đã tạo ra nó.
Những file sidecar này là lý do mà chúng ta cần phải giữ nguyên toàn bộ cấu trúc thẻ nhớ khi import vào hệ thống dựng phim.
Metadata Nội Dung
Metadata nội dung là phần hữu ích nhất của metadata trong quá trình sản xuất. Đây là thông tin về những gì nằm trong file media. Trước đây, để xem trong một đoạn phim nào đó quay những gì, người ta giơ tấm film trước một nguồn sáng là có thể thấy được. Tuy hơi chậm nhưng rõ ràng. Giờ thì metadata nội dung của file media là cách chúng ta biết được chúng ta quay cái gì trong đó.
Metadata nội dung có thể là một từ khoá hoặc một đoạn mô tả dài. Metadata nội dung thường được ai đó thêm vào trước khi quá trình dựng phim bắt đầu. Chúng tôi nói là “thường” vì ngày càng có nhiều nơi sử dụng AI để làm việc này.
Metadata do AI tạo ra cũng có những giới hạn riêng vì ở mức phát triển của công nghệ hiện tại, đôi khi metadata này là hữu ích, đôi khi nó chỉ khiến cho mọi thứ trở nên hỗn loạn hơn.
Việc để AI gắn nhãn tất cả mọi thứ có thể tối đa hóa khả năng tìm kiếm đối với một thư viện tài nguyên khổng lồ nơi lưu trữ rất nhiều video tư liệu qua nhiều năm, vì số lượng video lưu trữ là rất lớn, nhưng lượng dữ liệu quá lớn do máy tính tạo ra thường gây quá tải và không hẳn sẽ hữu ích cho quá trình sản xuất. Metadata nội dung cho sản xuất cần được tập trung vào những điểm cần thiết cho quá trình sản xuất, và ngoài việc tìm kiếm hình ảnh cơ bản và transcript, metadata do AI tạo ra thường quá nhiều tới mức dư thừa.
Metadata nội dung là thứ chúng ta sử dụng để sắp xếp các dự án và giúp cho quá trình dựng phim có một khởi đầu thuận lợi. Metadata nội dung thường được áp dụng và quản lý trong NLE (phần mềm dựng phim phi tuyến tính). Metadata nội dung thường không đi cùng file media mà thường đi cùng file project của NLE đó.
Metadata nội dung không cần phải áp dụng cho toàn bộ file media. Nó sẽ giá trị hơn khi được áp dụng cho các đoạn chọn lọc dựa trên nội dung hoặc một khoảng thời gian được xác định.
Metadata Phân Phối
Metadata phân phối giải quyết một vấn đề mà hầu hết chúng ta không gặp phải: đó là theo dõi việc phân phối các chương trình hoặc phim qua nhiều cùng lãnh thổ và nhiều phiên bản khác nhau. Giải pháp cua rnganhf là EIDR (Entertainment IDentifier Registry). Đây là một ID duy nhất cho mọi phiên bản của mọi bộ phim và tập phim truyền hình từng được sản xuất.
Vì nó là độc nhất, EIDR có thể được các bên thứ ba sử dụng – đáng chú ý nhất là ROVI – để giúp lịch phát sóng trên các ứng dụng xem phim, smart TV, đầu thu kỹ thuật số… trở nên chi tiết và nhiều thông tin hơn, thay vì chỉ hiển thị mỗi tên chương trình/phim và giờ phát sóng, bằng cách liên kết ID của chương trình/phim đến các nguồn dữ liệu khác để người dùng có thể xem được các thông tin về ekip, hình ảnh, tóm tắt nội dung, đánh giá… cùng các dữ liệu khác.
Một số metadata được ghi một cách riêng biệt (thường là bởi thư ký trường quay – script supervisor), và thường bao gồm các thông tin về shot, scene, take, các diễn viên xuất hiện trong shot đó, và nhận xét của đạo diễn về shot đó. Nếu người dựng phim (thường không on set) biết chính xác đạo diễn thích take nào thì điều đó sẽ giúp họ xây dựng một bản dựng làm hài lòng đạo diễn.

Ghi lại tất cả các dữ liệu cần thiết là một công việc rất phức tạp, đặc biệt là khi các phần mềm khác nhau xử lý metadata theo những cách khác nhau.
Quản Lý Metadata
Việc xử lý metadata như thế nào trong workflow của bạn tuỳ thuộc vào loại metadata mà bạn đang xử lý. Metadata kỹ thuật luôn có liên quan đến file media và đi cùng file media, vì metadata kỹ thuật chứa các thông tin về các file đó.
Metadata nội dung không đi kèm với file media. Nó thường ở trong file project hoặc thư viện (Library) dành riêng cho NLE đã được sử dụng để nhập các ghi chú, từ khoá và các metadata nội dung khác của clip.
Xử Lý Metadata Kỹ Thuật
Vì metadata kỹ thuật đi kèm với file cho nên không có nhiều việc phải làm để duy trì những thông tin này cho đến khi bạn encode lại file. Cho đến lúc đó, tên file và timecode luôn được giữ nguyên. Khi encode lại file, tên file có thể bị mất, bị thay đổi hoặc bị chuyển qua một thư mục khác để tránh xung đột tên. Mỗi lần encode lại sẽ thay đổi ngày tạo file và đổi luôn cả kích thước file và codec nữa.
Bạn cần phải lưu ý vấn đề này khi làm việc với một workflow sử dụng proxy. Việc theo dõi mối liên hệ giữa media gốc và proxy dùng cho quá trình dựng phim điện ảnh giúp cho các công ty như Deluxe và Technicolor kiếm bộn tiền. Theo truyền thống, việc chuẩn bị proxy, theo dõi mối liên hệ giữa media gốc và proxy và match back với file gốc sau khi dựng xong thường được giao cho các công ty này, hoặc các công ty có chức năng tương tự.
Đây là workflow của hầu hết các phim điện ảnh hiện nay, đặc biệt là các phim dựng trên Media Composer của Avid. Đây cũng là workflow ít áp lực nhất cho người dựng phim và cho phép chọn nhiều loại codec hoặc kích thước khung hình cho file proxy một cách thông minh.
Final Cut Pro X và Premiere Pro CC cũng đều có workflow tích hợp sẵn cho proxy, cho phép tạo và quản lý proxy với NLE chính. Cái này cũng tiện cho người dùng nhưng không linh hoạt lắm về các lựa chọn proxy.
Đối với những người muốn tự mình kiểm soát và quản lý quy trình, hoặc để nhóm nội bộ tự quản lý, Davinci Resolve cho phép bạn linh hoạt trong việc link lại file gốc.
Xử Lý Metadata Nội Dung
Metadata nội dung không đi kèm file. Nó chỉ tồn tại trong NLE hoặc Hệ Thống Quản Lý Tài Sản Đa Phương Tiện (Media Asset Management System – MAM). Điều này khiến cho việc kết nối giữa các clip và metadata nội dung trở nên khá mong manh. Trong hầu hết các trường hợp, nếu chỉ copy media thì các ghi chú đã được tạo cho các clip hoặc file đó sẽ không đi theo.
Điều khiến cho vấn đề trở nên phức tạp hơn chính là việc không có một phương pháp chung nào để xử lý metadata nội dung. Các NLE lưu trữ thông tin theo những cách riêng. Các dự án trên Premiere Pro được cấu trúc khác với các dự án trên Media Composer, và khác với các dự án trên Davinci Resolve hoặc các Thư viện của Final Cut Pro X. Vì các cấu trúc khác nhau này mà chúng ta không thể chuyển toàn bộ metadata nội dung từ một NLE này sang NLE khác.
Vậy nên tốt nhất là chỉ sử dụng một NLE từ đầu đến cuối cho một dự án. Trừ phi bạn dựng trên một NLE nào đó rồi chuyển qua Davinci Resolve để chỉnh màu. Thường thì quá trình chuyển đổi cũng khá mượt mà, không cần phải giữ lại metadata nội dung vì mấy này thường chỉ hữu ích cho quá trình dựng phim mà thôi.
Adobe cho phép nhúng metadata được thêm vào trên XMP Metadata Panel vào file media. Một khi đã được nhúng, nếu bạn mở file trên một máy tính khác có cài Premiere Pro CC thì phần mềm sẽ đọc metadata đó từ file và đưa nó lên XMP Panel.
FCP X cũng cho phép làm điều tương tự bằng cách sử dụng FindrCat của Intelligent Assistance. FindrCat nhúng tất cả các thông tin ghi chú từ FCP X vào file media và dịch các keyword thành Finder Tags. Toàn bộ metadata có thể được trả về cho FCP X khi dùng phiên bản Pro của FindrCat.
Một cách khác để lưu trữ và quản lý metadata nội dung là sử dụng một hệ thống quản lý tài sản kỹ thuật số có tên là Digital Asset Management (DAM) hoặc Media Asset Management (MAM). Các công cụ này đọc metadata nội dung từ NLE thông qua file XML và lưu trữ chúng bên trong cấu trúc dữ liệu của DAM hoặc MAM.
Hầu hết các hệ thống quản lý tài sản kỹ thuật số hỗ trợ nhiều NLE khác nhau, vậy nên metadata có thể được MAP đọc từ một định dạng XML và các clip có thể được xuất với metadata sang định dạng XML khác, khiến cho MAM hoặc DAM trở thành một phương tiện hiệu quả để quản lý metadata trong suốt quá trình hậu kỳ.



Bình luận về bài viết này