Nguồn: frame.io
Thuỳ sưu tầm và biên dịch

Có thể đã có rất nhiều người nói với bạn rằng bằng việc sử dụng timecode bạn có thể ngay lập tức sắp xếp mớ file audio và video hỗn độn của mình theo trình tự thời gian một cách gọn gàng. Điều này nghe có vẻ rất hấp dẫn nhưng đáng tiếc là sự thật lại không đơn giản như vậy. Timecode đang bị hiểu sai rất nhiều vậy nên chúng ta thực sự cần phân tích rõ timecode là gì, không là gì, và các mà bạn nên sử dụng nó.

Timecode là Timecode

Timecode mà chúng ta đang nói tới ở đây được Hiệp hội Kỹ sư Điện ảnh & Truyền hình (Society of Motion Picture & Television Engineers – SMPTE) phát triển vào những năm 1960. Timecode của SMPTE cho phép nhận dạng, edit và đồng bộ hoá file audio và video, và sau này nó cho phép chúng ta thực hiện kỹ thuật dựng phi tuyến tính (non-linear editing).

Timecode là một phương pháp dán nhãn cho các khung hình trong một bản ghi một cách chính xác. Nó hoạt động bằng cách đếm chính xác số khung hình trong một video, từ khung hình đầu tiên cho đến khung hình cuối cùng. Khi đếm các khung hình, timecode gán cho mỗi khung hình một mã định danh duy nhất, nhưng đây không chỉ là một số nguyên tuần tự. Mã định danh này chứa các giá trị cho GIỜ:PHÚT:GIÂY:SỐ KHUNG HÌNH. Các giá trị này dựa trên một trong hai yếu tố: tổng thời lượng footage được ghi lại (được gọi là record run timecode) hoặc thời điểm quá trình ghi diễn ra (được gọi là free run timecode). Hai loại timecode này đọc giống nhau nhưng mang ý nghĩa khác nhau.

Ví dụ, nếu bạn nhấn nút dừng ghi trên máy quay và màn hình hiển thị timecode là 09:53:20:06. Nếu bạn dùng record run timecode, điều đó có nghĩa là timecode đã đếm được tổng lượng footage đã quay kéo dài 9 tiếng, 53 phút, 20 giây và 6 frame, kể từ frame đầu tiên cho tới frame cuối cùng mà bạn vừa quay xong. Loại timecode này chỉ đếm số khung hình mà máy quay đã ghi lại. Còn nếu bạn dùng free run timecode, con số 09:53:20:06 có nghĩa là khung hình cuối cùng quay xong lúc 9:53 sáng (cộng với 20 giây và 6 frame) vào một ngày cụ thể. Free run timecode vẫn tiếp tục đếm kể cả khi thiết bị đang không ở chế độ ghi, vậy nên bạn luôn biết một khung hình được ghi lại vào lúc nào. Cả hai loại timecode đều có mục đích sử dụng riêng, nhưng nhìn chung cả hai đều có cùng một nhiệm vụ: cung cấp điểm tham chiếu để định vị bất cứ khung hình nào trong một video.

Vậy nên, timecode là một cách để theo dõi những gì đã xảy ra và thời điểm xảy ra nó. Đó là một công cụ tham chiếu. Hiểu theo cách nào đó thì nó giống như một dạng GPS trên timeline dựng của bạn. Mỗi khung hình trong footage của bạn có một địa chỉ, và timecode cho phép bạn điều hướng để tìm được khung hình đó. Nếu bạn muốn tìm một shot cụ thể nào đó trong timeline thì chỉ cần điền timecode của nó vào, và playhead sẽ ngay lập tức tìm đến đúng vị trí của nó. Nếu bạn cần phải chia sẻ một scene cho một ai đó thì chỉ cần đưa cho họ timecode là họ có thể biết chính xác cần phải tìm nó ở đâu.

Timecode chạy phía sau nhưng nó là chất keo giữ mọi thứ lại với nhau. Nó là một trong những phần quan trọng nhất trong metadata của các workflow sản xuất video kỹ thuật số hiện đại. Tuy vậy, vẫn có một số hiểu lầm về timecode mà chúng ta cần phải làm rõ.

Timecode không phải là Framerate

Khi bạn nghe về thuật ngữ framerate, hãy nhớ rằng framerate của timecode và framerate của video không phải là cùng một thứ.

Framerate của video chỉ tốc độ khung hình, tức là số khung hình được máy quay ghi lại mỗi giây, hoặc là số khung hình được phát lại mỗi giây, đơn vị là khung hình trên giây – frame per second (fps).

Framerate của timecode là số khung hình mà timecode đếm mỗi giây.

Có thể cho rằng hai cái này là một và điều đó hoàn toàn có thể hiểu được. Dù sao thì việc nghĩ rằng khi một khung hình được ghi lại, timecode sẽ đếm nó, điều này hợp lý. Nhưng sự thật thì không phải vậy. Sự khác biệt sẽ được làm rõ trong phần sau, nhưng trước tiên thì chúng ta chỉ cần khẳng định rằng hai cái này là khác nhau. Chỉ cần bạn nhớ là timecode đếm frame khác với cách máy quay ghi lại chúng.

Timecode Không Phải Là Sync

Hai khái niệm timecode và sync thường được một số người sử dụng thay thế cho nhau. Ý là nếu bạn khớp timecode giữa các thiết bị thì mọi thứ mà chúng ghi sẽ được đồng bộ hoá với nhau. Bằng cách đó, bạn có thể sắp xếp nhiều clip khác nhau trên phần mềm dựng theo timecode của chúng và chúng sẽ khớp nhau một cách hoàn hảo khi phát lại. Đáng tiếc là điều này không hoàn toàn đúng.

Mỗi thiết bị điện tử đều có đồng hồ riêng, thường là dùng một bộ giao động tinh thể thạch anh hoặc cơ chế tương tự. Miễn là được cung cấp năng lượng, bộ phận này sẽ hoạt động, nhưng nó sẽ giao động ở các tần số khác nhau trên các thiết bị khác nhau. Bằng cách đếm các rung động đó, thiết bị có thể theo dõi thời gian từ một phần nhỏ của giây này sang phần nhỏ tiếp theo (mili giây hoặc micro giây), qua đó cho thiết bị biết rằng nó phải làm gì vào lúc nào. Đồng hồ nội bộ của máy quay nói cho màn trập (shutter) biết khi nào thì nên đóng và mở, cho bộ xử lý hình ảnh biết tốc độ mà nó cần hoạt động, và cho thẻ nhớ biết nó cần lưu thông tin ở khoảng thời gian nào.

Vấn đề nảy sinh từ cách những thiết bị khác nhau định nghĩa một giây khác nhau. Những đồng hồ riêng của các thiết bị không chính xác một cách tuyệt đối và cũng không nhất quán giữa các thiết bị. Một đồng hồ có thể giao động nhanh hơn hoặc chậm hơn các đồng hồ khác một chút. Trong bối cảnh sản xuất, điều đó có nghĩa là hai máy quay khác nhau có thể đếm một giây theo hai cách khác nhau. Vậy nên, kể cả khi hai máy quay đều đang quay ở tốc độ khung hình giống nhau, thì tổng số khung hình mà chúng ghi được chưa hẳn đã giống nhau, vì chúng được ghi ở những thời điểm hơi khác nhau. Điều này khiến cho các các media đã ghi hơi lệch nhau một chút khi phát lại cùng lúc. Kể cả khi sự khác biệt chỉ ở mức 1/10000 giây thì các máy quay cũng sẽ lệch khoảng 1 giây sau vài tiếng ghi hình. Nghe thì có vẻ không nhiều, nhưng trên thực tế là chỉ cần lệch 1 khung hình thôi cũng đủ khiến khẩu hình bị lệch ở mức người xem có thể nhận ra được.

Giờ hãy tưởng tượng là bạn quay với 5 camera khác nhau, cùng hai thiết bị thu âm độc lập nữa. Đó là 7 đồng hồ riêng, tất cả đều đếm giờ theo những cách hơi khác nhau một chút. Như đã nói trước đây, kể cả khi đưa tất cả timecode của chúng về cùng một điểm bắt đầu thì các media ghi được cũng không khớp nhau một cách hoàn hảo được. Cách duy nhất để đồng bộ hoá tất cả các thiết bị này là để cho tất cả các thiết bị này tham chiếu cùng một đồng hồ.

Đây là lúc dùng đến Genlock. Genlock là viết tắt của generator locking – và nó là một tín hiệu giống như metronome – máy đếm nhịp – được dùng để giữ thời gian chính xác. Tín hiệu này được gửi đến máy quay/thiết bị thu âm/thiết bị ghi và ghi đè lên đồng hồ bên trong của chúng. Genlock tránh cho các thiết bị lệch nhau, bởi vì bây giờ chúng đang sử dụng một tham chiếu thời gian thống nhất và nhất quán. Thời gian 1 giây của genlock là thời gian 1 giây của mọi thiết bị nhận tín hiệu genlock.

Tất nhiên là nếu tất cả các thiết bị của bạn đều nhận tín hiệu genlock thì số khung hình mà timecode của bạn đếm sẽ hoàn toàn nhất quán trên tất cả các thiết bị. Như đã nói ở trên, timecode chỉ làm nhiệm vụ đếm và dán nhãn cho khung hình. Vậy nên nếu mọi khung hình từ mọi thiết bị được đồng bộ hoá bằng genlock (giả định rằng tất cả các thiết bị này đã được đồng bộ hoá vào đầu ngày). Và khi bạn xem lại các file đã quay, khung hình đó sẽ đại diện cho chính xác cùng một khoảnh khắc thời gian được ghi lại từ góc nhìn riêng của mỗi thiết bị.

Vậy nên, timecode không tự động đồng bộ hoá, nhưng nó là một phần quan trọng của quá trình sync. Để thực sự đồng bộ hoá cảnh quay và âm thanh trên nhiều thiết bị, bạn cần genlock để giữ cho các thiết bị chạy cùng nhịp và timecode để gán nhãn “khi nào” thì các khung hình đó được ghi lại để bạn có thể sync trong hậu kỳ.

Sự Bất Tiện Trên Phim Trường Trở Thành Cơn Ác Mộng Ở Hậu Kỳ

Timecode kém chất lượng thì cũng giống như một khiếm khuyết di truyền vậy. Nó ẩn sâu bên trong DNA của các file media kỹ thuật số của bạn, và các triệu chứng chỉ bộc lộ khi đã quá muộn. Và không ai miễn nhiễm với nó. Ngay cả khi bạn đã tốn biết bao nhiêu công sức và chi phí của mình để đồng bộ hoá các thiết bị của mình bằng genlock, các vấn đề vẫn có thể phát sinh do timecode không nhất quán. Một vấn đề nhỏ, rõ ràng trên phim trường có thể biến thành một vấn đề lớn không ngờ tới trong hậu kỳ.

Ví dụ, nếu một máy quay đặt timecode ở chế độ free run nhưng một máy khác lại đặt ở chế độ record run thì genlock cũng không cứu được bạn. hoặc bạn có thể dùng timecode record run nhưng bạn quên sync lại máy quay sau mỗi lần dừng quay. Mọi thứ bạn quay sau thời điểm đó sẽ không khớp nhau trên timeline. Và nếu bạn nhầm lẫn giữa timecode framerate giữa các thiết bị, nó sẽ trở thành một vấn đề đau đầu cho đội ngũ dựng phim.

Có rất nhiều thứ bạn phải làm đúng để sync bằng timecode, nhưng chỉ cần một lỗi nhỏ thì mọi thứ có thể hỏng bét cả. Bạn có thể nghĩ rằng mình có thể khắc phục các vấn đề timecode trong hậu kỳ, nhưng việc đó sẽ ngốn của bạn rất nhiều thời gian và đòi hỏi bạn phải làm việc một cách tỉ mỉ và cẩn thận, hơn nữa hiệu ứng dây chuyền của nó có thể lan ra toàn bộ chuỗi quy trình hậu kỳ của bạn.

Vậy nên bạn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nếu dành thời gian để làm đúng tất cả mọi thứ ngay trên phim trường.

Lựa Chọn Timecode Phù Hợp

Quyết định đầu tiên mà bạn phải đưa ra là bạn sẽ dùng loại timecode nào cho production của mình, free run hay record run.

Record run timecode thường phù hợp hơn với các setup đơn giản với một máy quay và một thiết bị thu âm, đặc biệt là quá trình quay đơn giản, diễn ra liên tục. Nếu bạn không cần kiểm tra thời gian thực trong khi quay, thì việc suy nghĩ về cảnh quay theo thời điểm các sự kiện diễn ra liên quan đến lúc bắt đầu và kết thúc ghi hình là điều bình thường. Mặc dù vậy, đối với các production lớn hơn, bạn sẽ cần timecode metadata mạnh mẽ hơn.

Free run timecode tốt hơn rất nhiều cho các setup quay nhiều máy, hoặc quá trình quay kéo dài nhiều ngày. Nó cho bạn biết bối cảnh ghi hình của một cú máy theo cách mà bạn thường nghĩ về thời gian: thời gian trong ngày. Vì vậy bạn có thể nhìn vào một clip và ngay lập tức biết được “nó được quay vào chiều qua”. Free run timecode cũng giúp bạn tiết kiệm được nhiều thời gian trên phim trường vì bạn không cần phải liên tục sync lại timecode trên các thiết bị mỗi lần dừng ghi.

Chọn Framerate

Sau khi đã chọn giữa free run hay record run timecode, bạn sẽ cần quyết định framerate cho footage của bạn. Đây không chỉ là một lựa chọn mang tính sáng tạo. Trên thực tế, framerate có thể quyết định video của bạn có thể được phát ở đâu.

Ở Bắc Mỹ, một số quốc gia ở Nam Mỹ và Nhật Bản, chuẩn phát sóng NTSC là vua, vì vậy các mức framerate 29.97, 59.94, và 23.976 là tiêu chuẩn. Nhưng ở châu Âu, hầu hết các nước châu Á và một số nước ở Nam Mỹ và châu Phi, chuẩn phát sóng PAL là 25 fps và 50 fps. Nếu bạn muốn phát sóng trên truyền hình ở những quốc gia ở khu vực này, bạn sẽ phải sử dụng tốc độ khung hình tương ứng. Tất nhiên, cần phải bổ sung là chuẩn 24fps dùng cho phim điện ảnh.

Nếu bạn thắc mắc là tại sao các khu vực khác nhau lại yêu cầu tốc độ khung hình khác nhau, thì câu trả lời là do các yếu tố về lịch sử phát triển khoa học công nghệ (cái này có chút hơi phức tạp). Ban đầu, truyền hình luôn phát sóng trực tiếp và không được ghi lại. Cách duy nhất để đảm bảo động bộ hoá giữa các máy quay ở studio với TV nhà bạn là dùng tín hiệu từ lưới điện chính. Tín hiệu đó là 60Hz ở Mỹ và 50Hz ở Châu Âu. Nhìn chung, điều này giữ cho timecode và tốc độ khung hình đơn giản. Vì số giây trong 1 phút (60) chia hết dễ dàng cho 60Hz (tương đương 30fps cho Mỹ) và 50Hz (tương đương 25fps cho châu Âu), nên không có sự khác biệt thực sự nào giữa tốc độ khung hình timecode và tốc độ khung hình video.

Nhưng đó là thời kỳ của truyền hình đen trắng. Khi những tiến bộ công nghệ thúc đẩy sự phát triển của TV màu, các kỹ sư đã thấy trước một vấn đề. Nếu tín hiệu TV màu hoàn toàn khác với tín hiệu TV đen trắng, thì hàng triệu người dùng TV đen trắng sẽ không xem được các chương trình truyền hình có màu. Nhưng nếu tín hiệu được giữ như cũ thì người dùng TV đen trắng vẫn sẽ xem được như bình thường.

Các kỹ sư đã sử dụng các kỹ thuật RF cao cấp để “chèn” một tín hiện màu giữa tín hiệu hình ảnh đen trắng và tín hiệu âm thanh hiện có. Mặc dù vậy, do tần số được phân bổ cho mọi kênh là cố định, việc nhồi nhét thêm dữ liệu đó vào tín hiệu hiện có đòi hỏi phải đánh đổi. Các kỹ sư không muốn giảm độ phân giải, vậy nên họ thay đổi tốc độ khung hình, từ 30fps thành 29.97fps. Thay đổi nhỏ này cho phép tín hiệu truyền hình màu truyền được trong phổ phát sóng hiện tại mà không dẫn đến quá nhiều nhiễu tín hiệu hình ảnh. Từ đó, tiêu chuẩn TV màu NTSC ra đời.

Tuy nhiên, tiêu chuẩn này lại đặt ra một vấn đề. Timecode chỉ có thể đếm tròn khung, chứ không đếm được một phần của khung hình. Điều này có nghĩa là bất kỳ tín hiệu truyền hình nào phát ở chuẩn 29.97fps cũng sẽ bị mất 0.03 khung hình mỗi giây. Nếu timecode vẫn đếm tròn 30 khung hình mỗi giây, thì cứ mỗi giờ số khung hình mà timecode đếm được sẽ nhiều hơn số khung hình thực tế 3.6 giây (0.03 frame mất đi mỗi giây x 60 giây x 60 phút = 216 frame, tương đương 3.6 giây. Điều này sẽ dẫn đến việc các thiết bị chạy ở tốc độ 29.97fps bị lệch đồng bộ khỏi đồng hồ thông thường. Vấn đề là như vậy đấy.

Để khắc phục vấn đề này, một loại timecode đặc biệt đã được tạo ra để thích ứng với mức tốc độ khung hình kỳ lạ này: drop frame timecode. Drop frame timecode hoạt động chính xác như cái tên của nó đã chỉ ra – nó bỏ bớt một số khung hình trong quá trình đếm trong timecode. Cụ thể thì nó hoạt động bằng cách bỏ đi hai số khung hình trên mỗi phút của timecode, ngoại trừ mỗi phút thứ 10. Điều này không ảnh hưởng đến quá trình ghi/phát lại, vì nó chỉ bỏ bớt số khung hình chứ không bỏ đi khung hình thực tế. Bằng các bỏ đi một vài số, việc ghi lại cảnh quay dài 1 tiếng ở tốc độ khung hình 29.97fps hoặc 59.94fps sẽ cho bạn timecode chính xác là 1 tiếng.

Bạn vẫn nhớ là ở trên chúng ta đã nói rằng framerate của timecode khác với framerate của video chứ? Đây chính là sự khác biệt đó.

Lưu ý rằng drop frame timecode được viết với dấu chấm phẩy ngăn cách số cuối cùng, thay vì dấu hai chấm như trong timecode không drop frame.

Những phép tính này có vẻ quá kỹ thuật, nhưng bạn vẫn cần phải hiểu tại sao drop frame timecode tồn tại và nó hoạt động như thế nào. Nếu bạn cần phải dùng tới nó thì nó sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ dự án, vậy nên bạn phải làm đúng, vì nếu không thì có rất nhiều vấn đề có thể xảy ra.

Ví dụ, nếu bạn quay một event dài ở Free Run timecode ở mức 29.97fps, bạn cần dùng Drop Frame timecode. Tại sao? Bởi vì nêu không thì đồng hồ thực và đồng hồ của timecode sẽ lệch nhau 3.6 giây mỗi giờ. Nếu một ngày thì sẽ lệch khoảng 1 phút rưỡi. Nếu mà phải chỉnh lại trong hậu kỳ thì nhức đầu lắm đấy.

Hãy nhớ rằng bạn có thể sử dụng các loại timecode không drop frame nếu bạn không theo chuẩn NTSC. Vì vậy, nếu có thể tránh được mấy cái phiền phức này thì nên tránh.

Nhưng đôi khi mấy cái framerate lẻ kiểu này là không thể tránh khỏi. Trong trường hợp đó thì hãy đảm bảo chắc chắn rằng các thiết bị ghi của bạn đều được đặt ở drop frame timecode. Nếu bạn lẫn lộn giữa drop frame và không drop frame, quá trình hậu kỳ chắc chắn sẽ rất rắc rối, và team của bạn sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để xử lý vấn đề này.

Đôi khi để tránh các vấn đề về timecode có thể xảy ra, bạn sẽ phải sử dụng thiết bị “yếu nhất” trong hệ thống của mình làm mốc chuẩn timecode. Nếu bạn có 3 máy quay đều có thể ghi hình ở mọi mức tốc độ khung hình, và một cái chỉ có thể quay ở 29.97fps, thì bạn nên dùng 29.97fps và drop frame timecode trên tất cả các thiết bị. Nó hơi phiền một xíu nhưng mục tiêu của bạn là đảm bảo rằng timecode trên tất cả các thiết bị đều là chính xác.

Về cơ bản, bạn cần xem xét các yếu tố về khu vực phát sóng và phương tiện trình chiếu cuối cùng mà bạn muốn chiếu sản phẩm của mình. Timecode drop frame hay không drop frame đều khá dễ sử dụng, chỉ cần bạn hiểu vấn đề và setup mọi thứ đúng ngay từ đầu là được.

Lưu ý rằng không có drop frame timecode cho 23.976fps/23.98fps. Đây là framerate được sử dụng để chiếu phim hoặc video 24fps trên các hệ thống 29.97fps. Đáng tiếc là không thể xác định được chính xác số khung hình cần phải bỏ bớt khởi timecode để hợp với chuẩn NTSC, vậy nên bây giờ nó là một định dạng video HD động lập. Vậy nên nếu bạn muốn quay ở 23.976fps/23.98fps, tất cả các thiết bị ghi phải hỗ trợ cài đặt này để giữ cho mọi thứ được đồng bộ.

Đồng Bộ Hoá Thiết Bị Ghi Và Timecode

Sau khi chọn loại timecode, framerate cho video, framerate cho timecode cho dự án của bạn, bước tiếp theo là bắt đầu tìm cách để sync tất cả các media được ghi.

Genlock

Để có được kết quả tốt nhất, hãy xem xét sử dụng một thiết bị genlock bên ngoài được kết nối bằng dây đến máy quay và các thiết bị ghi thông qua một cổng genlock. Khi kết hợp với một cổng timecode vào ra, nó sẽ cấp cho tất cả các thiết bị ghi của bạn một nguồn timecode chung và một tín hiệu đồng bộ. Khiến cho mỗi khung hình từ mọi thiết bị đồng nhất về mặt thời gian.

Chỉ có điều một hệ thống như vậy khá là đắt đỏ và phức tạp, và nếu quay ngoại thì không có tiện cho lắm. Trong trường hợp bạn không thể sử dụng một thiết bị sync duy nhất, bạn có thể sử dụng các thiết bị sync riêng lẻ, như Ambient Recording Lockit Box. Những thiết bị này đều đã được sync với nhau và cấp cho mỗi máy quay tín hiệu genlock của riêng chúng.

Jam-Sync

Nếu bạn không có một nguồn sync đáng tin cậy, bạn có thể cân nhắc Jam-Sync. Đây là một thuật ngữ chỉ một phương pháp sync sử dụng một máy quay chính (master) làm nguồn timecode cho một máy quay phụ (slave). Nếu máy quay chính gặp sự cố timecode mất tín hiệu, máy phụ sẽ lấp khoảng trống đó bằng timecode của chính nó (đã được đồng bộ hoá trước đó).

Dù jam-sync không thực sự là sync nhưng nó vẫn có thể dùng được khi cần. Mặc dù vậy, nó có giới hạn. Mỗi camera vẫn phụ thuộc vào đồng hồ riêng của nó, vậy nên các máy được jam-sync cần được liên tục sync lại, nếu không thì timecode sẽ bị lệch.

Timecode không dây

Một số timecode, như SMPTE 12M LTC, có thể được truyền dưới dạng tín hiệu âm thanh analog, tạo ra một âm thanh cụ thể, có thể nhận biết được khi phát qua loa. Về mặt ý thuyết, điều này cho phép sử dụng các thiết bị timecode không dây tận dụng âm thanh này. Những giải pháp này không hoàn hảo nhưng khá tiềm năng cho các công nghệ sync mới trong tương lai.

Timecode Cho Team Hậu Kỳ

Hầu hết editor, VFX artist, colorist và sound designer sẽ không ở trên phim trường lúc quá trình quay diễn ra, vậy nên họ sẽ không tham gia quyết định lựa chọn timecode. Mặc dù vậy, timecode sẽ ít nhất chi phối một phần lớn các quy trình kỹ thuật của họ. Vậy nên, điều quan trọng là thông tin về các định dạng timecode được dùng trong dự án phải được truyền đạt rõ ràng trong toàn bộ workflow.

Nếu bạn không lên phim trường nhưng có tham gia vào quá trình tiền kỳ, hãy nói với bất kỳ ai có nhiệm vụ xử lý các bản ghi từ máy quay/thiết bị thu âm, và tìm hiểu định dạng mà họ sử dụng. Nếu họ không biết hoặc chưa quyết định, hãy đưa ra đề nghị cụ thể.

Nếu bạn hoàn toàn không tham gia vào quá trình sản xuất hay tiền kỳ mà chỉ nhận file sau khi đã được giao cho bạn để làm hậu kỳ, hãy nói chuyện với thành viên đoàn phim chịu trách nhiệm quay và thu thập càng nhiều thông tin càng tốt về cài đặt máy quay. Có thể bạn không ngăn được những vấn đề phát sinh trong quá trình quay, nhưng càng có nhiều thông tin thì bạn càng được chuẩn bị tốt hơn để giải quyết những vấn đề mà bạn gặp phải.

Bất kể bạn làm gì với timecode, hãy nhất quán. Điều này sẽ khiến cuộc sống của bạn và cuộc sống của nhiều người khác, dễ dàng hơn rất nhiều.

Bình luận về bài viết này

Quote of the week

“Every life is in many days, day after day. We walk through ourselves, meeting robbers, ghosts, giants, old men, young men, wives, widows, brothers-in-love, but always meeting ourselves.”

~ James Joyce, Ulysses

Nếu thấy các bài viết hay và hữu ích, hãy mua cho Thuỳ một ly Marou