Nguồn: frame.io
Thuỳ sưu tầm và biên dịch

Chuẩn Bị Cho Hậu Kỳ

Có rất nhiều thứ diễn ra kể từ lúc đạo diễn hô “Cắt” đến khi dựng phim bắt tay vào làm công việc của mình. Sync (đồng bộ hoá dữ liệu), backup (sao lưu dự phòng), checksum (kiểm tra lỗi) và những nhiệm vụ khác cần phải được thực hiện để chuẩn bị cho quá trình hậu kỳ.

Workflow chuẩn bị file cho quá trình hậu kỳ

Điều đầu tiên bạn nên làm ngay khi lấy thẻ nhớ ra khỏi máy là sao lưu dữ liệu. Ở nhiều nơi khác nhau. Nói chung là, tất cả mọi thành quả lao động và nỗ lực của cả team đều nằm trong mấy cái thẻ nhớ mỏng dính và mong manh đó.

Vì những file này rất quý giá, nên người làm ở vị trí DIT hoặc camera operator sẽ dùng một phần mềm chuyên dụng để sao lưu chứ không dùng mấy bộ phím tắt ctrl C, ctrl V hay phương pháp kéo thả truyền thống. Những phần mềm này dùng checksum, có thể hiểu nó là một dạng vân tay kỹ thuật số, để đảm bảo rằng các file mà bạn copy vào ổ cứng là hoàn toàn giống hệt như các file ở trên thẻ nhớ.

Hậu trường phim “The Suitcase”. Đạo diễn Abi Damaris Corbin

Checksum Và Sao Lưu Bảo Vệ Dữ Liệu

  1. Checksum

Nếu bạn từng đóng vai trò là người chịu trách nhiệm di chuyển các file trong một workflow (có thể là sao chép dữ liệu từ thẻ nhớ máy quay hoặc chuyển dữ liệu qua lại giữa các cơ sở hậu kỳ), bạn nên sử dụng checksum để bảo vệ dữ liệu – vốn là tài sản quan trọng nhất trong làm phim kỹ thuật số.

Checksum là một đoạn mã làm nhiệm vụ giúp nhận diện file. Nếu chỉ một bit data bị thay đổi bên trong file, tổng (sum) của file mới sẽ không khớp với file gốc, và checksum sẽ cho bạn biết là có điều gì đó không ổn trong dữ liệu mà bạn vừa chép ra.Vì các file khác nhau chứa dữ liệu khác nhau, mỗi file có một giá trị checksum riêng và duy nhất, vậy nên bạn sẽ luôn biết được rằng file vừa mới chép có giống 100% với file gốc hay không. Vậy nên checksum giống như một dạng vân tay. Chúng đi theo file đến bất cứ đâu và cho chúng ta biết liệu những file đó có giống hệt như file gốc hay không.

Checksum có thể được sử dụng cho bất kỳ dạng file kỹ thuật số nào (hoặc thậm chí là cho các thư mục chứa nhiều file), nhưng nó đặc biệt hữu ích cho hậu kỳ. Nó giúp bạn bảo vệ các cảnh quay của mình khi các cảnh quay này được xử lý bởi hàng tá người khác nhau và nó cho bạn biết nếu như có vấn đề xảy ra.

Vì file video được tạo thành từ hàng triệu, hàng tỉ, thậm chí là hàng nghìn tỉ bit dữ liệu riêng lẻ, việc xử lý chúng là một quá trình phức tạp. Và sự phức tạp thường sinh ra lỗi. Chỉ cần một trong số bit dữ liệu đó sai lệch, file của bạn có thể trở nên hoàn toàn vô dụng. Đối với việc sản xuất video, mất file thường đồng nghĩa với việc mất đi rất nhiều giờ lao động của rất nhiều người. Chỉ cần một footage có vấn đề thôi thì cũng có thể làm tiêu tốn của production một khoản tiền khổng lồ. Dù checksum không thể bảo vệ bạn khỏi tất cả những nguy cơ có thể xảy ra (ví dụ như thẻ nhớ bị mất hay ai đó vô tình làm đổ nước/cà phê lên khu vực chép thẻ), nhưng nó đóng vai trò quan trọng trong một workflow an toàn vì nó cho phép bạn phát hiện lỗi xảy ra trong quá trình sao chép dữ liệu và kịp thời xử lý vấn đề trước khi quá muộn.

Bất cứ khi nào bạn sao chép nội dung từ thẻ nhớ, tạo các bản sao lưu, giao dailies hay gửi footage cho team khác (về cơ bản là bất cứ lúc nào bạn sao chép và chuyển file từ nơi này qua nơi khác), bạn đều nên dùng checksum để đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu. Mặc dù việc đưa checksum vào workflow đòi hỏi bạn phải đầu tư một khoản nhỏ, nhưng giá trị của nó đối với sự an toàn và bảo mật của dữ liệu là hoàn toàn xứng đáng. Checksum phát hiện vấn đề ngay khi nó xuất hiện, cho phép bạn xử lý nhanh gọn và giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều tiền (và bớt đi nhiều sợi tóc bạc).

Nguyên tắc toán học của checksum khá phức tạp (nếu bạn biết hash function (hàm băm) là gì thì checksum cũng tương tự như vậy. Các thuật toán khác nhau sử dụng những phương pháp cực kỳ đa dạng để tạo checksum cho file, nhưng nói chung thì quy trình là giống nhau. Hãy bắt đầu với một ví dụ đơn giản.

Hãy tưởng tượng một file là một số, ví dụ 2341842. Vì dữ liệu của con số này rất đơn giản, chúng ta có tạo checksum cho nó theo cách thủ công bằng các cộng các chữ số lại với nhau

2+3+4+1+8+4+2=24

Vậy là giờ chúng ta đã có giá trị checksum, chúng ta có thể gắn giá trị này vào cuối số đó, vậy con số bây giờ là 234184224. Vì chúng ta tự mình thực hiện quá trình này, chúng ta biết rằng hai số cuối không phải là một phần của dữ liệu gốc mà chỉ là giá trị checksum mà thôi.

Bây giờ hãy tưởng tượng chúng ta muốn gửi file này cho một người bạn qua thư. Không may là bức thư bị ướt một chút trong quá trình vận chuyển nên số 8 bị nhoè một chút và nhìn như số 6. Đây là một vấn đề. Nhưng may là trong thư chúng ta có viết thêm 2 số cuối là giá trị checksum. Vì vậy, khi bạn của bạn đọc thư, họ sẽ biết cần phải cộng các chữ số lại với nhau và ngay lập tức phát hiện ra vấn đề.

2+3+4+1+6+4+2≠24

Đây là một thuật toán checksum hết sức đơn giản, nhưng qua đó bạn có thể phần nào hiểu được cách thức mà máy tính sử dụng để xác minh dữ liệu. Rõ ràng là các file trên máy tính thì phức tạp hơn nhiều, nên là máy tính cũng sử dụng nhiều phương pháp phức tạp, nghiêm ngặt và có tính chính xác cao hơn nhiều. Ví dụ, thuật toán checksum phổ biến Md5 sử dụng một chuỗi 32 số và chữ để tạo giá trị checksum. Điều này khiến cho quá trình xác thực của Md5 cực kỳ chính xác. Rất hiếm có khả năng một file bị thay đổi mà vẫn giữ nguyên được giá trị checksum.

Để sử dụng checksum trong workflow của bạn, bạn sẽ cần một phần mềm hỗ trợ tính năng này. Mặc định của Windows và macOS không hỗ trợ kiểm tra các lỗi ở cấp độ bit như vậy, vậy nên bạn sẽ cần một phần mềm chuyên dụng. Shotput Pro và Hedge là những lựa chọn phổ biến, và các phần mềm như Davinci Resolve hiện nay cũng đã được tích hợp checksum. Nếu bạn biết cách sử dụng Terminal/Command Prompt thì tự tạo checksum thực ra cũng khá đơn giản. Nhưng dù bạn dùng phần mềm nào, các bước cơ bản vẫn giống nhau.

Đầu tiên thì phần mềm sẽ đọc file và tạo một giá trị checksum cho file đó. Đây được gọi là checksum nguồn (source checksum), và nó được đính kèm vào file. Tiếp theo, máy tính của bạn tạo bản sao của các file mà bạn muốn sao chép và di chuyển bản sao đó đến vị trí khác. Khi bản sao của các file này được ghi vào vị trí mới xong thì phần mềm sẽ kiểm tra lại checksum của file mới này, được gọi là checksum đích (destination checksum). Sau đó thì phần mềm sẽ so sánh checksum nguồn và checksum đích để xem chúng có khớp hoàn toàn hay không. Nếu khớp, quá trình sao chép đã thành công. Nếu không, phần mềm sẽ đưa ra cảnh báo.

Nếu bạn cất ổ cứng trên kệ trong một thời gian dài (điều này có thể dẫn đến việc mất một vài bit thông tin nhỏ), thì tốt nhất là bạn nên tạo checksum cho các file này ngay từ đầu, để sau này bạn có thể kiểm tra lại xem các file của mình trong ổ cứng đó có còn nguyên vẹn hay không.

Ngoài việc chọn phần mềm thì bạn cũng cần quyết định xem bạn muốn sử dụng thuật toán nào. Các thuật toán khác nhau có những đặc điểm và hạn chế riêng, nhưng hầu hết các phần mềm cho phép bạn chọn tùy theo nhu cầu. Như đã nhắc đến ở trên, Md5 rất phổ biến trong ngành video, phần lớn nhờ vào tốc độ và khả năng tương thích chéo của nó với Windows, macOS và Linux. Tuy nhiên, Md5 khá là cũ rồi, vậy nên nhiều người đang sử dụng các thuật toán mới như xxHash, SHA-2, hoặc SHA-3.

Nghe thì có vẻ phức tạp nhưng đừng lo lắng, các phần mềm sẽ tự động hóa phần lớn quy trình này. Trong phần lớn các trường hợp, sử dụng checksum không phức tạp hơn việc “kéo thả” hay “ctrl C – ctrl V” thông thường là bao. Vậy nên chẳng có lý do gì để không dùng checksum trong workflow của bạn cả. Nó giúp bạn an tâm với một khoản chi phí và thời gian không đáng kể.

Tuy nhiên, dù checksum rất hữu dụng trong việc đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu, chúng cũng chỉ là một phần của giải pháp bảo mật dữ liệu. Điều quan trọng hơn vẫn là xây dựng một hệ thống sao lưu và bảo vệ dữ liệu đủ mạnh mẽ.

2. Sao Lưu Và Bảo Vệ Dữ Liệu (Backup)

Không sao lưu các file video sau khi quay giống như việc chơi trò Cò quay Nga (Russian roulette) với công việc và danh tiếng của bạn. Bạn có thể nghĩ rằng bạn vẫn có thể sống sót nếu không sao lưu dữ liệu của mình, hoặc chỉ làm việc này cho có lệ, nhưng chỉ cần một file có vấn đề thôi cũng có thể làm hỏng cả dự án của bạn. Vậy nên, bạn cần có một kế hoạch sao lưu tất cả dữ liệu của mình một cách bài bản và khoa học.

Không có một phương pháp sao lưu dữ liệu nào phù hợp cho tất cả mọi người và mọi production. Mỗi workflow sẽ có những yêu cầu đặc thù khác nhau và nó ảnh hưởng tới kế hoạch sao lưu dự phòng dữ liệu mà workflow đó sẽ cần tới. Nhưng nguồn lực và tài nguyên thì luôn có hạn. Nhiệm vụ của bạn là cân bằng giữa khả năng bảo mật và đảm bảo an toàn dữ liệu và tính hiệu quả. Bạn không muốn mất dữ liệu, nhưng cũng không muốn dành quá nhiều tiên chỉ riêng cho việc sao lưu các cảnh quay của mình. Vậy nên có một số nguyên tắc chung ban nên tuân theo khi lên kế hoạch cho hệ thống backup của mình.

  • Nguyên tắc 1: Bạn phải luôn (luôn luôn) có ít nhất một bản sao của tất cả các file trong project của mình. Tất cả mọi thứ, từ những shot quan trọng nhất của bộ phim, cho đến những file metadata tưởng chừng như không có tác dụng gì nhiều ngoài việc để làm credit. Nếu ai đó trong workflow cần đến nó, thì nó là quan trọng và cần được backup.
  • Nguyên tắc 2: Các bản sao lưu không được để ở chung chỗ với bản gốc. Việc lưu các bản backup trên cùng một máy tính hay hệ thống nội bộ là công thức dẫn đến thảm họa. Chỉ cần một con virus hoặc lỗi hệ thống có thể dẫn đến việc cả hai bản cùng bị xoá. Nếu cả file gốc lẫn file backup đều được lưu chung một chỗ, hoặc được kết nối với nhau thông qua hệ thống mạng có dây hoặc không dây thì đó không phải là một bản sao lưu an toàn.
  • Nguyên tắc 3: Các bản sao lưu cần được để ở những nơi khác so với nơi lưu trữ bản gốc. Đề phòng các sự cố như mất điện, bị trộm đột nhập, mối mọt rỉ sét, hoả hoạn… hay các tai nạn khác. Khi thảm họa xảy ra ở văn phòng hay studio của bạn, tất cả mọi hệ thống máy tính và hệ thống lưu trữ của bạn có thể bị phá huỷ. Vậy nên cách tốt nhất để tránh những chuyện này là đặt bản sao lưu ở một địa điểm hoàn toàn khác.
  • Nguyên tắc 4: Tất cả các hệ thống lưu trữ sao lưu phải an toàn và ổn định một cách độc lập. Nguyên tắc này đề cập đến việc bạn dùng loại hệ thống lưu trữ nào để sao lưu các file quan trọng. Chắc chắn là bạn có hàng terabyte tệp trong các bản sao lưu ở nơi khác, nhưng nếu tất cả các dữ liệu đó đều được lưu trữ trong các ổ cứng 10 năm tuổi thì những file đó có lẽ không an toàn đến vậy đâu. Điều tương tự cũng có thể xảy ra với các hệ thống RAID có ngưỡng chịu lỗi tương đối thấp. Có thể bạn sẽ nghĩ rằng lưu trên RAID thì tương đối an toàn hơn so với việc lưu trên các ổ cứng đơn lẻ, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng. Ví dụ, RAID 0 không tạo bất cứ bản dự phòng nào cho file của bạn, vậy nên nếu chỉ một ổ đĩa trong đó có vấn đề, bạn sẽ mất mọi thứ. RAID 0 thực tế còn kém ổn định hơn so với một ổ cứng đơn lẻ. Luôn lưu các file backup của bạn trên các hệ thống lưu trữ bền bỉ và đáng tin cậy nhất mà bạn có thể tìm thấy.
  • Nguyên tắc 5: Các bản sao lưu phải được sắp xếp một cách có tổ chức. Nếu bạn tuân thủ các nguyên tắc ở trên nhưng bạn không lưu hồ sơ chi tiết về việc bạn đặt các bản sao lưu của mình ở đâu, đặt tên cho nó là gì, thì cũng chắc khác gì việc bạn không backup cả. Nếu tai nạn xảy ra, và bạn cần phải dùng dến các bản sao lưu mà lại quên mất là mình đã lưu nó ở đâu, với tên là gì, thì không hay lắm đâu. Bạn buộc phải biết mọi thứ ở đâu, nếu không thì về cơ bản là các bản sao lưu này không tồn tại.
  • Nguyên tắc 6: Các bản sao lưu cần có thể truy cập một cách dễ dàng khi có nhu cầu. Giống như trong các nguyên tắc ở trên, các file sao lưu dự phòng sẽ vô dụng trừ khi bạn có thể sử dụng nó khi cần. Bạn có thể tạo một bản sao lưu và cất nó trong két an toàn của ngân hàng nào đó nhưng nếu ngân hàng không mở cửa 24/7 để bạn có thể lấy nó ra bất cứ lúc nào thì bạn có thể sẽ không kịp dùng bản sao lưu này để xử lý vấn đề kịp deadline khi có sự cố xảy ra. Kể cả khi bạn tạo một bản sao lưu dự phòng trên các dịch vụ lưu trữ đám mây (cloud service), thì nếu kết nối internet không đảm bảo bạn cũng có thể gặp rắc rối. Bạn có thể phải mất nhiều ngày mới có thể download hết hàng terabyte dữ liệu. Điều này không có nghĩa là tất cả các bản sao lưu đều phải luôn sẵn sàng mọi lúc, nhưng ít nhất bạn cần một bản như vậy.

Việc tuân thủ các quy tắc này sẽ giúp cho quy trình sao lưu của bạn được ổn định hơn. Dù rằng rủi ro luôn rình rập nhưng ít nhất thì những điều này cũng cho phép bạn giảm thiểu chúng.

Sau này, rất có thể bạn sẽ phải chuyển các file này sang các định dạng khác nhau, nhưng bạn phải luôn có một bản backup ở định dạng gốc từ máy quay. Các file này được gọi là “camera negative” (gợi nhớ về thời kỳ quay phim nhựa).

Bình luận về bài viết này

Quote of the week

What should young people do with their lives today? Many things, obviously. But the most daring thing is to create stable communities in which the terrible disease of loneliness can be cured.

~ Kurt Vonnegut

Nếu thấy các bài viết hay và hữu ích, hãy mua cho Thuỳ một ly Marou